KINH BÁO ÂN CHA MẸ
(bản dịch cổ)
Thích Trí Quang
(bản dịch cổ)
Thích Trí Quang
Kinh này tôi nghe Phật dạy trong khi ngài cùng với rất nhiều các vị đại tỳ kheo và đại bồ-tát ở nơi tịnhh xá Kỳ Hoàn thuộc nước Xá Vệ. Lúc bấy giờ Đức Thế Tôn cùng với đại chúng đi về phía nam Tịnh Xá thấy một đống xương khô, ngài liền đảnh lễ sát đất.
Tôn giả A-Nan thấy vậy bèn thưa: Bạch đức Thế tôn, ngài là đại sư của chúng sinh, là từ phụ của muôn loài, ai cũng quy kính, sao ngài lại lễ bái đống xương khô ấy một cách cung kính như thế.
Phật dạy: A-Nan, ông tuy là đệ tử thường túc của ta, nhưng trí thức còn khuyết điểm. Đống xương này hoặc là tổ tôn kiếp trước, hoặc là cha mẹ nhiều đời của ta, nên ta chí thành kính lễ. Ông thử đem đống xương khô này chia ra hai phần. Nếu là đàn ông thì đầu xương trắng mà nặng, như là đàn bà thì xương đã đen lại nhẹ. Tôn giả A-Nan bạch Phật, bạch đức Thế tôn, đàn ông đàn bà khi còn sinh tồn thì nhờ hình dáng mà biền biệt, nay đã chết rồi thì chỉ một đống xương khô như nhau còn làm sao phân biệt được.
Phật dạy, A Nan, đàn ông khi sống tinh tu phạm hạnh, đa văn thiền quán, nên xương trắng mà nặng. Đàn bà sanh sản huyết sữa hao tổn, mệt nhọc lao khổ nên xương đã đen lại nhẹ.
Tôn giả A-Nan nghe Phật dạy như thế lòng đau như cắt than khóc rơi lệ, bạch hỏi đức Phật, Bạch đức Thế Tôn, ân đức cha mẹ thế nào làm sao báo đáp được. Phật dạy, A-Nan hãy nghe cho kỹ ta sẽ giải thích rõ ràng. Trong mười tháng thai mang, mẹ hiền thật cùng cực khổ sở, thai mang một tháng như hạt sương rơi trên cỏ tan tụ rất mong manh. Hai tháng như ván sữa, ba tháng như huyết động, bốn tháng hơi thành hình người, năm tháng mới có đầu hai tay và hai chân, sáu tháng sáu giác quan là mắt, tai, mũi, miệng, lưỡi và ý mới khai tượng, bảy tháng gân cốt lông da mới đủ, tám tháng đủ lục phủ ngủ tạng, chín tháng mới thành đứa bé hấp thụ nguyên khí của mẹ mà sống, qua tháng thứ mười bắt đầu chuyển sinh. Nếu là hiếu thuận thì đứa hài nhi ấy xuôi tay mà ra không thương tổn mẹ. Nếu đứa ngỗ nghịch thì cào cấu tâm cang, phá đạp thai bào làm cho thân mẫu đau đớn vạn trạng. Nên sanh đẻ được thân này là may mắn phước đức lắm vậy.
A-Nan, ân đức cha mẹ có mười điều sau đây:
Một là ân thai mang giữ gìn, vì nghiệp lực nhân duyên nên nay thác thai mẹ lâu ngày khổ sở, chín tháng cưu mang nặng nhọc như đội núi, đi đứng sợ gió mưa, quần áo không sửa soạn, trang điểm còn kể chi.
Hai là ân sinh sản khổ sở. Qua tháng thứ mười gần ngày sản nạn, đêm đêm như bệnh nặng, ngày ngày tợ hoàng hôn, khiếp hãi sầu khổ, lệ sầu tuôn rơi, bôn ba nghĩ ngợi, chỉ sợ tử thần không dung tánh mạng.
Ba là ân sinh rồi quên lo, trong khi sinh đẻ, gan ruột từ mẫu tuồng như xé rách, đau đớn mê mang, mấu huyết dầm dề, nhưng nghe con an toàn thì vui mừng quên tất cả. Xong vui đó lại buồn đó lại buồn đó thống khổ thiệt cang trường.
Bốn là ân nuốt đắng nhổ ngọt. Tình thương cha mẹ thật thâm hậu thương mến có bao giờ lạc phai, nhổ ngọt không tiếc nuối, thuốc đắng nào phiền hà, thương mến càng sâu đậm bi sầu càng tăng thêm, miễn sao con no ấm đói khát mẹ nào từ.
Năm là ân nhường khô nằm ướt. Mẹ nằm chỗ ướt át, nâng con chỗ ấm khô, đôi vú no đói khát, hai tay che gió sương, yêu thương quên ngủ nghỉ sủng ái hết giá lạnh, chỉ mong con yên ổn mẹ hiền không cầu an.
Sáu là ân bú mớm nuôi nấng, mẹ hiền ân hơn đức, cha nghiêm đức quá trời, che chở ân cao dày, cha mẹ nào tính toán, không hiềm không mắt mũi, không ghét què chân tay, con sinh từ bụng mẹ còn đổi dạ thương ai.
Bảy là ân tắm rửa săn sóc. Không nghĩ phận mình chỉ lo con bệnh tật, cho nên hết lòng tắm rửa săn sóc, áo quần lo cho con, rách rưới mẹ đành chịu, thân con được kín đáo là lòng mẹ ấm áp.
Tám là ân xa cách thương nhớ, chết mà từ biệt đã đành khó nhẫn nại, sống mà biệt ly lại càng rất nhớ thương, con đi đường xa cách lòng mẹ bóng theo hình, ngày đêm không hả dạ tối sớm nào tạm quên, khóc như khóc vượn nhớ con, thương nhớ nát cang trường.
Chín là ân vì con làm ác, lao khổ đủ muôn bề, bữa ăn vẫn khó kiếm, vì muốn con no ấm việc ác mẹ khó xa, nuôi khôn lớn lo hôn nhân lo cơm áo sợ cơ hàn kho nấu các sinh vật cũng vì ngon miệng con.
Mười là ân thương mến trọn đời. Ân đức của cha mẹ cao sâu hơn trời đất, hy sinh hết tất cả vẫn thấy chưa vừa lòng. Mẹ già hơn trăm tuổi còn thương con tám mươi, ân ái có đoạn chăng chỉ hơi thở cuối cùng.
Phật dạy, A-Nan, ta xét chúng sanh tuy làm thân người tâm trí hôn mê không biết cha mẹ ân đức cao dày, không biết cung kính vong ân bội nghĩa, không lòng mến thương bất hiếu bất mục, từ mẫu thai mang trong mười tháng tròn đứng ngồi không yên như gánh gánh nặng, ăn uống không xuống như bệnh lâu lành, khi đủ ngày tháng sắp sửa sinh đẻ thì đủ khổ sở. Khiếp sợ tử thần tánh mạng mong manh như vật bị hại huyết chảy tràn đất, mẹ khổ như thế mới sinh ra ta, sinh rồi nuốt đắng nhổ ngọt bồng ẵm nuôi nấng không kể mệt nhọc, nhịn nắng chịu mưa không từ cay đắng, chỗ khô con nằm chỗ ướt mẹ lăn, suốt trong ba năm nhờ huyết sữa mẹ mới thành đứa bé. Đến khi khôn lớn lo việc giáo dục lo việc hôn nhân kinh doanh sản nghiệp tận tụy lao lung khổ nhục suốt đời, không kể công khó, con cái tật bệnh cha mẹ bệnh theo, bệnh con nếu hết mẹ hiền mới lành.
Thế nhưng đến khi trưởng thành thì lại bất hiếu, nói với cha mẹ lời tiếng hỗn hào trợn mắt trừng ngươi, khi lăn chú bác đánh đập anh em, hủy nhục bà con không có lễ nghĩa, thầy dạy không tuân, cha mẹ răn bảo toàn không y cứ, đối đãi anh em cố ý gây gỗ, đi ở ra vào không cần cha mẹ, ngôn hạnh thô bỉ, tự chuyên manh động, cha mẹ quở trách chú bác răng đe thì sinh sân hận chống trả phản bội mặc dầu chính ta do mẹ sanh ra do cha nuôi lớn, ruồng bỏ bạn tốt triều mến kẻ xấu, huân tập thành tánh bèn thành cuồng bạo, thoát ly gia đình giang hồ buông lung, hoặc chinh chiến xâm lược hoặc bị biến tù đày hoặc khốn khổ đói khát hoạn nạn hiểm nguy, vì vậy thân chết thây phơi gió sương xương trắng bộc lộ để cho cha mẹ nhớ thương sầu khổ khóc đến lòa mắt bi ai thành bệnh, có khi buồn khổ đến nỗi phải chết.
Hoặc thấy con cái mê tín dị đoan không lo học tập sao lãng nghề nghiệp cho nên cha mẹ lại càng buồn khổ, thế nhưng con cái vẫn cứ cờ bạc hoang đàng buông lung tội lây cha mẹ họa đến bà con trong khi đó thì cha mẹ đau đớn không hay đói lạnh không biết, thấy cha như thấy nợ, thấy mẹ như thấy khách không có khi nào hỏi han đóai hoài, cha mẹ buồn tủi cô đơn lạnh lùng, ngủ phải ngủ nhờ ăn phải ăn xin ngày đêm than thở bi thảm muôn vàng con cái vẫn không hay biết cho dẫu hay biết lại thấy thẹn thùng, thẹn thùng hơn nữa khi thấy cha mẹ vì tuổi tác cao vì lo khổ nhiều mà phải thân hình gầy ốm xấu xí, cho nên bực tức khi la mắng nhiếc, cha mẹ cao cả đáng dâng xương thịt nhưng cho một bữa lại thấy hỗ ngươi sợ người chê cười. Còn với vợ con cù đày phục dịch trút hết mồ hôi đổ cả tài sản mà vẫn không hỗ, thê thiếp sai bảo thì nhất thiết thi hành, cha mẹ nói năng không thèm đếm xỉa. Nếu là con gái thì khi chưa chồng tuy có hiếu thuận nhưng khi có chồng rồi càng thêm bất hiếu, cha mẹ hơi sân liền nổi oán hận, còn chồng đánh mắng lại cam nhịn nhẫn khác họ khác dòng mà tình nặng nghĩa sâu, xương mình thịt mình lại coi như nước lã, mê theo chồng con quên ngày quên tháng bỏ quên cha mẹ không tin không hỏi làm cho cha mẹ nhớ thương sầu khổ.
Ân đức cha mẹ vô lượng vô biên, tội lỗi bất hiếu vô lượng vô biên, nói không bao giờ hết tả không bao giờ cùng.
Tất cả đại chúng nghe đức Phật Đà kể dạy ân đức vô lượng của cha mẹ như thế toàn thân rung động hơi thở ngừng lại mồ hôi toát ra lặng đi một lát mới cao tiếng than rằng, chúng ta là kẻ khốn nạn đáng thương đáng trách hồi nào đến giờ mê mờ như kẻ đi đêm, ngày nay mới biết việc làm của mình là sai lầm tội lỗi. Cho nên lòng dạ đau thương cang trường thống liệt bèn cùng nhau bạch Phật, bạch đức Thế Tôn, ân đức cha mẹ cao sâu thế làm sao báo được.
Bây giờ đức Như Lai bèn dùng phạm âm vi diệu như tiếng hải triều dạy bảo đại chúng. Giả như có người vai trái cõng cha và vai mặt mang mẹ, cắt da đến xương nghiền xương thấu tủy máu đổ thịt rơi cũng không đáp được thâm ân của cha mẹ. Giả như có ai gặp lúc đói khát phá hoại thân thể cung phụng cha mẹ trăm kiếp nghìn đời thường thích tròng con mắt cắt hết tâm can, trăm nghìn dao sắt xuất nhập toàn thân cũng không trả nổi ân đức cha mẹ và đến cuối cùng dẫu vì cha mẹ đốt thân làm đèn cúng dường chư Phật cũng không đáp được hồng ân cha mẹ.
Đại chúng nghe thế lòng càng đau đớn khóc lóc bi thảm đồng thanh bạch Phật. Bạch đức Thế Tôn thế thì làm sao mới báo đáp được ân đức cha của mẹ.
Phật dạy các phật tử muốn báo đáp ân cha nghĩa mẹ thì phải viết chép trì tụng và thực hành kinh này, phải sám hối tội lỗi cha mẹ bằng cách khuyến hóa cha mẹ thực hành chánh pháp, phải vì cha mẹ thực hành tịnh giới, bố thí các hạnh lợi tha. Nếu được như vậy mới là hiếu tử, không làm như thế là người địa ngục. Ân đức cha mẹ cao cả ngần nào tội báo bất hiếu nặng nề ngần ấy. Cho nên những kẻ bất hiếu nghịch bội tội khổ vô cùng không chi sánh bằng không thể nói hết.
Nếu ai lưu thông và thực hành kinh này tức là chân chính báo đáp được thâm ân của cha mẹ vậy, vì báo đáp thâm ân cha mẹ mà lưu hành kinh này thì cứ mỗi cuốn là như được gặp một đức Phật Đà đại giác và do uy lực của chư Phật ảnh hưởng hợp với năng lực phước đức của người trì tụng thực hành kinh này nên cha mẹ người kia phước lạc vô biên cho đến dần dần sẽ được giải thoát.
Lúc bấy giờ đại chúng nghe đức Thế Tôn dạy bảo như thế đều phát nguyện rằng. Chúng con từ nay cùng tận vị lai dầu cho xương thịt tan nát đổ rơi, dầu cho mổ xẻ chân tay thân mạng, dầu cho sắt nóng lăng quay trên đầu cũng nguyện không trái lời Phật, không phản thánh giáo.
Tôn giả A-Nan bạch Phật. Bạch đức Thế Tôn khế kinh quý báu này nên gọi là gì, chúng con làm sao phụng trì.
Phật dạy, A-Nan kinh này tên là Báo Ân Cha Mẹ, cứ như danh hiệu ấy mà các ngươi phụng trì. Khi Phật dạy xong tất cả đại chúng thảy đều hoan hỷ tín thọ phụng hành.
--000---