Câu Hỏi 40-60

Friday, 20 May 20169:46 PM(View: 983)
Câu Hỏi 40-60

100 CÂU HỎI PHẬT PHÁP
Thích Phước Thái

 

40. Khuyên bảo con cháu phải trung thành với đạo của mình, lời khuyên bảo đó của cha mẹ có sai trái không?

Hỏi:  Kính bạch thầy, con có một vài thắc mắc nay xin được nêu ra để hỏi. Kính mong thầy cho con lời khuyên giải.

1. Nếu lo ngại con cái mình sẽ kết hôn với người khác tôn giáo, nên khuyên bảo con cái đừng quen biết với ai khác tôn giáo mình. Như vậy làm cha mẹ có sai không?

2. Làm cha mẹ thường xuyên khuyến nhắc con cái mình, nên phải thường tới chùa, cúng dường, bố thí, phóng sanh, lạy Phật v.v... Như vậy cha mẹ có khắc khe bắt buộc con cái mình phải theo đạo của mình không?

3. Trước đây, con có cho con của con học trường đạo của Thiên Chúa Giáo, nó rất quý kính đức Chúa Giê Su. Sau đó, con lo sợ nó bỏ đạo Phật nên con dẫn nó đi chùa quy y Tam bảo. Nó cũng vâng lời và làm theo con. Như vậy, làm cha mẹ như chúng con có quá khắc khe sai trái không? Kính xin thầy chỉ dạy và cho ý kiến.

 

Đáp: Qua ba câu hỏi của Phật tử, tôi xin được lần lượt chia sẻ và góp chút thành ý với Phật tử như sau:

 

1. Vấn đề khuyên bảo con mình không nên kết hôn với người khác tôn giáo, việc quan tâm lo ngại của Phật tử như thế, theo tôi, thì cũng không có gì là sai trái hay quá đáng. Bởi làm cha mẹ thử hỏi có cha mẹ nào mà không quan tâm lo lắng muốn cho con mình có được hạnh phúc? Tuy đây là vấn đề tín ngưỡng thuộc về lĩnh vực tinh thần trong niềm tin tôn giáo, nhưng nó cũng rất hệ trọng trong đời sống hôn nhân. Việc kết hôn với người khác tôn giáo, đối với xã hội hiện nay thì không ai có quyền ngăn cấm. Tuy nhiên, làm cha mẹ thì ai cũng nơm nớp lo sợ cho con mình sẽ mất đi hạnh phúc trong tương lai, vì sự khác biệt niềm tin tôn giáo. Bởi phẩm chất, mục đích và hình thức lễ nghi của mỗi tôn giáo có những đặc điểm xây dựng niềm tin khác nhau. Mà hạnh phúc của con người là điều tối ư quan trọng trong đời sống, nhất là đời sống lứa đôi. Giả như hai người khéo biết tôn trọng, thỏa thuận trong niềm tin với nhau, nhưng khi sanh con ra thì chúng nó không biết phải theo tôn giáo nào? Theo tôn giáo của cha hay là của mẹ? Hay là theo cả hai? Hoặc là không theo tôn giáo nào cả. Điều nầy, chúng tôi thiết nghĩ, chúng ta cũng nên lưu tâm suy gẫm. Nếu không, thì cũng chỉ làm khổ cho con cái của chúng ta sau nầy mà thôi. Bởi chúng ta vô tình đặt chúng nó vào một tình trạng thật khó xử. Chừng đó liệu vợ chồng có còn hạnh phúc nữa hay không? Thực tế, cho chúng ta thấy tình trạng xung đột bất hòa nầy thường hay xảy ra.

 

Chính vì lo sợ hậu quả xảy ra không tốt cho con mình, nên cha mẹ mới có ý nhắc nhở khuyên bảo con cái. Nếu đứng trên lập trường và qua kinh nghiệm sống thực tế của cha mẹ thì, lời khuyên bảo thức nhắc hay phân tích giải thích cho con cái của mình hiểu biết, điều đó thật không có gì là sai trái, mà ngược lại thì nó rất là hợp tình hợp lý. Vì mục đích là nhằm thức nhắc con cái của mình nên cẩn trọng phòng ngừa để tránh cái hậu quả không tốt đẹp có thể xảy ra sau nầy. Người xưa có câu nói: "Ngừa bệnh hơn là chữa bệnh". Thật vậy, nếu điều nào ngừa được thì chúng ta nên ngăn ngừa trước là tốt hơn. Đừng để sự việc xảy ra rồi mới lo chạy chữa. Đợi nước đến trôn rồi mới lo nhảy, như thế, thì e rằng không còn kịp nữa đâu, vì đã quá muộn màng rồi! Chi bằng phòng bị trước thì hay hơn. Thiết nghĩ việc khuyên bảo răn nhắc của cha mẹ đối với con cái, đó là điều cha mẹ nên làm. Tuy nhiên, việc khuyên bảo thức nhắc đó là việc làm của cha mẹ, còn con cái có nghe và làm theo hay không, đó lại là một chuyện khác. Trong vai trò làm cha mẹ, thì Phật tử cứ làm hết cái trách nhiệm bổn phận yêu thương của mình, còn việc nghe hay không là quyền của chúng nó. Giả sử sau nầy việc đó có xảy ra, thì chúng nó cũng không có lý do nào để có thể hờn trách Phật tử được. Và Phật tử cũng không có gì phải áy náy ăn năn hối hận. Tất cả đều do chúng nó ý thức và tự quyết định lấy. Hạnh phúc hay khổ đau là chính do mỗi người tự tạo định đoạt cho mình. Phật tử nên biết rằng, đối với thời đại mới hiện nay, quyền quyết định hôn nhân không còn ở nơi cha mẹ định đoạt nữa, mà chính do con cái chúng nó tự quyết định lấy. Thời xưa, thì cha mẹ còn có quyền đặt định, theo kiểu cha mẹ đặt đâu thì con cái phải ngồi đó. Bây giờ thì việc đó đã quá lỗi thời rồi. Ngày nay phải nói ngược lại mới đúng: "Con cái đặt đâu thì cha mẹ phải ngồi yên ở đó".

 

2. Việc khuyên bảo con cái làm điều tốt, điều lành, điều phải, thì đó là trách nhiệm và bổn phận của cha mẹ. Việc nầy xưa nay đều như thế, không ai có thể phủ nhận được. Tuy nhiên, việc khuyên bảo con cái đi chùa, cúng dường, bố thí, phóng sanh, lạy Phật như Phật tử đã nói, theo tôi, điều khuyên nầy Phật tử cần phải cân nhắc cẩn thận và phải hết sức tế nhị. Nếu không khéo, đôi khi Phật tử sẽ bị phản tác dụng. Nghĩa là chẳng những chúng nó không tin tưởng nghe theo, mà trái lại chúng nó còn làm cho Phật tử phải thêm giận hờn bực tức nữa. Giả như Phật tử khuyên chúng nó mà chúng nó không làm theo, thì Phật tử có tức giận không? Cho nên tốt hơn hết là Phật tử cứ hãy để cho chúng nó có một sự quyết định theo ý muốn và phát tâm tự nhiên. Bởi vì niềm tin không thể ép buộc được. Mình cũng nên tôn trọng niềm tin của chúng nó. Phật tử nên nhớ, việc tu hành làm lành lánh dữ, nó còn tùy thuộc ở nơi căn duyên nghiệp quả sai khác của mỗi người. Đâu phải mình muốn là được. Nếu nhân duyên của chúng nó chưa đến mà Phật tử cố tình khuyên bảo hoặc ép buộc, thì chỉ mang lại cái hậu quả phiền phức không tốt đẹp cho cả hai bên mà thôi. 

 

Hơn nữa, Phật tử cũng biết, hiện chúng ta đang sống trong thời đại văn minh tân tiến dân chủ và tự do. Không ai có quyền bắt buộc kẻ khác phải làm theo ý của mình. Nếu như thế, thì đi ngược lại với trào lưu tư tưởng tiến hóa của nhơn loại. Điều nầy không khéo chúng nó sẽ lên án cho mình là kẻ độc tài, độc đoán, chuyên chế v.v... và như thế  thì sẽ không đem lại lợi lạc gì cả.

 

Nếu Phật tử lấy quyền làm cha mẹ mà bắt nạt con cái phải nghe theo mình, thì điều đó mới là khắc khe quá đáng. Phật tử nên biết, tuy là con cái nhưng mỗi đứa có mỗi cá tánh sở thích thói quen khác nhau. Sự khác nhau đó trong nhà Phật gọi là biệt nghiệp. Thế thì, cha mẹ có thể khuyên con chớ không thể bắt buộc con. Đừng bắt ép chúng nó phải làm những gì mà chúng nó không thích. Bởi căn nghiệp và sự huân tập môi trường sống của mỗi người mỗi khác. Việc đi chùa hay làm bất cứ những điều lành nào khác, hãy để cho mỗi người tự ý thức và tự quyết định lấy. Sự giáo dục con cái đối với xã hội ngày nay nó đã khác hơn thời xưa rất nhiều. Lối giáo dục sai khiến kẻ khác phải làm theo ý mình, điều nầy không còn hợp thời nữa. Mà dẫu cho mình có ra lệnh sai khiến chúng nó, chắc gì chúng nó nghe theo mình. Không khéo sẽ tạo thành cảnh mâu thuẫn xung đột bất hòa giữa con cái và cha mẹ. Thế thì cả hai đều phải chịu nhiều đau khổ.

 

Theo tôi, điều tốt nhứt là chúng ta nên làm gương cho chúng nó. Áp dụng lối thân giáo có lẽ là tốt hơn khẩu giáo. Thay vì Phật tử khuyên chúng nó tu hành làm lành lánh dữ, thì bản thân của Phật tử nên cố gắng thật hành điều nầy. Nghĩa là Phật tử khuyên bảo thì ít, mà Phật tử nên làm cho chúng nó thấy thì nhiều. Cứ để cho chúng nó ý thức được việc làm có lợi ích thì tự chúng nó phát tâm thôi. Phật tử không nên bắt buộc chúng nó phải đi chùa hay làm những việc lành khác. Thay vì chúng có thiện cảm với chùa, nhưng vì sự khuyên bảo hay bắt buộc của Phật tử, chúng nó lại tự ái đâm ra mất thiện cảm với chùa và cũng không muốn làm điều lành nào cả. Chừng đó Phật tử lại càng ân hận tức giận khổ tâm hơn. Chi bằng Phật tử cứ thuận theo nhân duyên là tốt hơn. Tôi thành thật khuyên Phật tử nên cẩn thận và hết sức tế nhị về vấn đề khuyên bảo nầy.

 

3. Sự tôn kính đối với đức Chúa như thế là rất tốt. Người Phật tử không nên có thành kiến đối với bất cứ tôn giáo nào. Vì còn có thành kiến là còn có sự kỳ thị tranh chấp và hận thù. Đừng vì tôn trọng và chỉ biết có đạo giáo của mình mà khinh thường chê bai đối với các đạo giáo khác. Thái độ và hành động đó người Phật tử chân chánh quyết không nên có. Mọi sự kỳ thị vị kỷ đều bắt nguồn từ bản ngã mà ra. Đạo Phật vượt ra ngoài mọi sự kỳ thị vị kỷ tranh chấp đó. Đạo Phật luôn tôn trọng Phật tánh của mỗi người. Đối với đạo Phật, tất cả đều là bạn. Đạo Phật không thấy ai là kẻ thù cần phải tiêu diệt. Mà đạo Phật luôn đề cao và tôn trọng. Đó là bản chất từ bi bình đẳng vị tha của đạo Phật. Người Phật tử phải có cái nhìn vượt ngoài đối đãi nhị nguyên. Có thế, thì mới có thể hòa đồng mang lại sự yêu thương cho khắp cả chúng sinh. Sự hướng dẫn con cái đi vào con đường chánh đạo đó là trách nhiệm và bổn phận của các bậc phụ huynh. Phật tử hướng dẫn con mình về chùa quy y Tam bảo đó là điều rất tốt và không có gì là khắc khe cả.

 

Kính chúc Phật tử luôn có nhiều an lạc và đầy đủ nghị lực sáng suốt để vượt qua mọi thử thách chướng duyên.

 

41. Ý nghĩa của hai chữ đạo tràng là gì? Giữa đạo tràng và niệm Phật đường có khác nhau không?

 

Hỏi:  Kính bạch thầy, mình thường gọi đạo tràng, nhưng con không hiểu hai chữ đạo tràng là gì? Giữa đạo tràng và niệm Phật đường có khác nhau không? Kính mong thầy giải thích cho chúng con rõ. Thành kính trọng ơn thầy.

 

Đáp: Hai chữ đạo tràng, chúng ta có thể hiểu qua hai ý nghĩa khác nhau.

 

a, Đạo tràng theo ý nghĩa sự tướng.

 

 Đạo tràng theo ý nghĩa hình thức sự tướng, thì đạo tràng là nơi hành đạo như: thuyết pháp, truyền giới, tụng niệm, thọ bát tu học v.v... Nói chung là những pháp sự mang tính cách lễ nghi hình thức tu tập ở trong chùa hay ở bất cứ nơi nào cũng đều gọi chung là đạo tràng cả. Đạo tràng cũng chỉ là tên gọi khác của tự viện mà thôi.

 

b. Đạo tràng theo ý nghĩa lý tánh.

 

Trong Kinh Duy Ma Cật có câu nói: "Trực tâm tức thị đạo tràng". Trực tâm là tâm ngay thẳng. Thế nào là tâm ngay thẳng? Tâm ngay thẳng là tâm không vướng mắc phân biệt hai bên: có không, phải trái, lành dữ v.v... Đó là nghĩa Trung đạo. Cùng ý nghĩa nầy, Ngài Nam Tuyền cũng có câu nói: "Bình thường tâm thị đạo". Bình thường là tâm không bị kẹt vào đối đãi nhị nguyên. Cả hai câu nói đều có ý nghĩa giống nhau và đều chỉ thẳng cái bản tâm thanh tịnh sáng suốt sẵn có của chính mình.

 

Còn Phật tử hỏi giữa Đạo tràng và Niệm Phật đường có khác nhau không? Xin thưa, cũng không có khác mấy. Vì như trên đã nói đạo tràng là nơi để hành đạo tu tập, tức chỉ chung cho những tự viện chùa chiền v.v... Thế thì Niệm Phật đường cũng là một trong những nơi để hành lễ tu tập. Như vậy cũng là một đạo tràng. Tuy nhiên, nếu luận về pháp môn hay tông phái thì như tên gọi của nó cũng đã nói lên cái ý nghĩa chuyên tu hành trì theo một pháp môn niệm Phật. Do đó dù tên gọi tuy có khác nhưng ý nghĩa thì cũng giống nhau vậy.

 

 

42. Phải tôn trọng quyển kinh khi cầm kinh trong tay như thế nào?

 

Hỏi:  Kính bạch thầy, con có ba câu hỏi kính mong thầy giải đáp:

1. Trong lúc cầm quyển kinh khi gặp chư Tăng, Ni con có phải xá chào không?

2. Trời đang nóng, mà chúng con lấy kinh quạt có nên không?

3. Khi chúng con đang tụng kinh, dùng nước miếng lật qua trang khác có nên không? Xin thầy hoan hỷ giải thích cho con rõ.

 

Đáp: Qua ba câu hỏi của Phật tử, tôi xin được lần lượt nêu ra từng câu hỏi một để trả lời cho Phật tử hiểu rõ thêm:

 

1. Phật tử hỏi trong lúc cầm Kinh khi gặp chư Tăng, Ni Phật tử có phải xá chào không?

 

Xin thưa, khi đang cầm quyển kinh trên tay, tuyệt đối Phật tử không được xá chào. Vì trong khế kinh có câu: "Thị Kinh như thị Phật". Nghĩa là thấy Kinh như thấy Phật. Tại sao thế? Bởi vì Kinh là những lời vàng ngọc quý báu do Phật nói ra và đã được chư Tổ kết tập lại. Do đó, chúng ta phải hết lòng tôn kính thọ trì. Đã tôn kính Phật tất nhiên là chúng ta cũng phải tôn kính những gì Phật dạy. Vì thế, khi cầm Kinh dù đối tượng trước mặt mình là chư Tăng, Ni hay bất cứ ai Phật tử cũng không được cầm kinh xá chào. Khi xá chào như thế, thì sẽ bị mắc vào hai cái lỗi: Một là, coi thường Kinh điển Phật dạy. Hai là, người mà mình xá chào, tại mình mà người ta phải bị tổn phước. Thế nên chúng ta phải lưu tâm cẩn thận về vấn đề nầy. Trong trường hợp như Phật tử đã nói, thì Phật tử chỉ có thể cúi đầu chào, chớ không nên cầm Kinh trên tay xá chào.

 

2. Trời đang nóng mà chúng con lấy Kinh quạt có nên không?

 

Xin thưa ngay là không nên. Như trên đã nói, thấy Kinh như thấy Phật. Đã thế, thì dù cho trời có nóng bức cháy da phỏng trán đến đâu đi nữa thì, chúng ta cũng không nên cầm Kinh để quạt cho mát đưọc. Như thế thì chúng ta sẽ phạm vào cái lỗi khinh thường bất kính kinh điển vậy.

 

3. Khi chúng con đang tụng Kinh, dùng nước miếng lật qua trang khác có nên không?

 

 Điều nầy lại càng không nên. Bởi nước miếng của chúng ta là thứ dơ bẩn hôi thúi mà thắm vào tay để lật từng trang Kinh, như thế thì mất đi sự tôn kính. Chúng ta không nên có ý nghĩ cho đó là những trang giấy thông thường mà không kính trọng. Tuy đó là giấy trắng mực đen nhưng trong đó chứa đựng toàn những ngôn từ vàng ngọc quý báu của Phật dạy. Chính nhờ những lời dạy nầy mà chúng ta mới thấu rõ được đường lối tu hành. Và nhờ tinh tấn tu hành nên chúng ta mới được giải thoát.

 

Chẳng những không được thắm nước miếng lật kinh thôi, mà chúng ta cũng không nên dùng miệng thổi bụi trên kinh hay kẹp kinh vào nách hoặc để kinh bừa bãi ở những chỗ dơ dáy bất tịnh. Và trước khi cầm Kinh chúng ta cũng phải rửa tay cho sạch sẽ rồi mới cầm.

 

Nói tóm lại, kinh điển là những lời Phật dạy, chúng ta phải hết lòng trân kính không được tỏ ra khinh thường mà mang trọng tội vậy.

 

 

43. Cúng dường Tam bảo như thế nào mới đúng pháp?

 

Hỏi:  Kính bạch thầy, khi cúng dường Tam bảo, con thấy có người ghi tên còn có người thì bỏ vào thùng phước sương. Như vậy cách nào đúng? Có người nói mình không ghi tên thì không ai biết. Và qua hai cách cúng dường đó thì phước báo hơn kém thế nào? Con mong thầy giải thích cho con rõ.

 

Đáp: Xét trên hình thức cúng dường thì cả hai cách đều đúng. Tuy nhiên, xét về nội dung tức trong tâm thức dụng ý của mỗi người có thể có chút ít sai khác. Trường hợp người cúng dường bằng cách ghi tên có thể có hai cách dụng tâm khác nhau: Một là, người cúng có ý mong cầu cho mọi người biết đến tên tuổi của mình, thì sự cúng dường nầy quả thật không đúng theo lời Phật dạy, vì họ có ý cầu danh. Cúng dường với cái tâm ích kỷ nhỏ hẹp như thế, thì phước báo làm sao có nhiều được? Hai là, người cúng tuy cũng ghi tên mà họ không có cái ý vọng cầu như thế, thì phước báo của người nầy sẽ được hưởng nhiều hơn. Vì họ cúng dường với sự phát tâm chơn chánh, không có ý mong cầu điều gì có lợi cho riêng mình.

 

Cần nói rõ thêm, đối với hạng người thứ nhứt, cúng dường mà còn cầu danh, thì quả thật họ không có thành tâm. Tại sao cúng dường mà còn phải ghi tên cho mọi người biết? Như vậy, họ cúng dường cho Tam bảo hay cúng dường cho mọi người? Đã nói là cúng dường Tam bảo thì Tam bảo chứng minh cho lòng thành dâng cúng của mình là được rồi. Cần gì để cho mọi người biết đến? Cúng dường mà còn muốn phô trương cái bản ngã vị kỷ của mình, tất nhiên là không đúng với ý nghĩa cúng dường rồi. Đã thế, thì thử hỏi phước báo làm sao mà có nhiều cho được?  Bởi nhân như thế nào thì quả như thế ấy.

 

Đối với hạng người thứ hai, tuy họ cũng ghi tên mà họ không có cái ý cầu danh, họ chỉ làm theo thủ tục ghi tên của nhà chùa thôi, đối với hạng người nầy tất nhiên là họ sẽ hưởng được phước báo nhiều hơn. Vì họ cúng dường bằng cái tâm chơn thành chớ họ không có ý mong cầu vọng tưởng điều gì cả.

 

Còn đối với việc cúng dường Tam bảo bằng cách bỏ tiền vào thùng phước sương, điều nầy tùy theo tâm lượng và sự phát tâm của mỗi người  mà phước báo cũng có sự hơn kém khác nhau.

 

Nếu cúng bằng cái tâm chân thành, không nghĩ đến số tiền dâng cúng nhiều ít, hoặc sợ người ta chê cười và cũng không có ý mong cầu điều gì có lợi ích cho riêng mình, chỉ thành tâm cầu nguyện cho Tam bảo được trường cửu ở thế gian để làm lợi ích cho chúng sinh. Cúng dường với cái tâm lượng rộng lớn như thế thì phước báo thật vô lượng vô biên. Vì sự cúng dường đó là đúng theo pháp Phật dạy. Ngược lại, nếu cúng dường mà còn có cái tâm so đo tính toán hơn thua, vì cúng ít tiền sợ người khác biết được họ chê cười, cho nên không dám ghi tên, chỉ bỏ vào thùng phước sương không muốn cho ai thấy biết. Nếu cúng dường với cái tâm như thế, thì thật không đúng pháp cúng dường. Đồng thời, khi cúng lại còn cầu nguyện Phật Bồ tát gia hộ cho mình và gia đình cũng như trong dòng họ thân tộc của mình tất cả đều được bình an. Cúng dường với cái tâm lượng nhỏ hẹp ích kỷ như thế, thì thử hỏi làm sao hưởng được nhiều phước báo?

 

Cho nên, cũng đồng thời hai người cúng dường tài vật giống nhau nhưng kết quả thì lại khác nhau. Lý do tại sao? Tại vì ở nơi cái chánh nhân dụng tâm của hai người đó. Một người cúng dường có ý mong cầu cho mọi người biết và cũng mong muốn được lợi lạc cho riêng mình. Đó là phát cái tâm nhỏ hẹp thì làm sao xứng với tánh thể Bồ đề? Vì tánh thể Bồ đề là rộng lớn vô biên không có giới hạn. Còn một người cúng dường không cần ai biết tới cứ âm thầm bỏ tiền vào trong thùng phước sương và rồi thắp nhang lễ Phật nguyện cầu cho Tam bảo được trường tồn trên thế gian lâu dài làm lợi lạc cho chúng sinh. Và nguyện cầu cho pháp giới chúng sanh đều hồi tâm tỉnh thức tu hành thành Phật. Chỉ nguyện cầu như thế thôi. Tuyệt nhiên không có ý mong cầu điều gì riêng tư cho cá nhân mình hay cho gia đình và dòng họ thân tộc của mình. Đó là cái tâm cúng dường rộng lớn xứng hợp với tánh thể Bồ đề tất nhiên là sẽ được phước báo rất lớn. Tuy không cầu nguyện cho riêng mình hoặc tất cả những người thân tộc của mình, nhưng đã cầu nguyện cho hết thảy chúng sinh đều được lợi lạc thì trong chúng sinh đó đã có mình và có tất cả người thân của mình rồi.

 

Tuy nhiên, thông thường người Phật tử khi cúng dường Tam bảo thì họ thích ghi tên hơn là không ghi. Ghi hay không ghi cũng không sao, cái quan trọng là ở chỗ dụng tâm của mỗi người. Nếu ghi tên mà mình không có cái ý cho mọi người biết mà chỉ làm theo cái thủ tục của nhà chùa bày ra thì điều đó cũng không có gì là sai trái. Thường thì trong chùa hay tuyên dương tán thưởng cho những Phật tử nào phát tâm cúng dường tài vật vượt trội hơn các vị khác. Điều nầy, là vì muốn tùy hỷ công đức của người đã phát tâm rộng lớn. Đồng thời cũng có ý là để cho những người khác biết để tùy hỷ tán dương và noi theo mà thôi. 

 

Kính mong Phật tử chúng ta nên ý thức mà cúng dường cho đúng pháp theo lời Phật Tổ chỉ dạy. Có như thế thì mới được lợi lạc lớn lao vậy.

 

44. Trì chú và niệm Phật cái nào linh nghiệm hơn.

 

Hỏi: Kính bạch thầy, con thường trì tụng các thần chú mỗi đêm sau đó con mới niệm hồng danh Phật. Có người nói, niệm Phật không linh nghiệm bằng trì chú, vì trì chú có thần gia hộ nên cầu gì được nấy. Mong thầy cho biết lời nói nầy có đúng không? Và con trì chú trước niệm Phật sau có được không? Kính  mong thầy giải đáp cho con hiểu rõ. Thành kính biết ơn thầy.

 

Đáp: Trong câu hỏi của Phật tử chúng tôi thấy có ba vấn đề mà Phật tử muốn biết:

 

Thứ nhứt, Phật tử thường trì tụng các thần chú trước rồi sau đó mới niệm hồng danh Phật. Điều nầy không có gì là sai trái. Thường trong thời khóa Tịnh độ tối ở trong các chùa thuộc hệ phái Phật giáo Bắc tông, đều gồm có đủ ba tông: Thiền, Tịnh và Mật. Và nếu nói rộng ra thì gồm đủ cả. Thiền là khi tụng niệm tâm hành giả không duyên theo ngoại cảnh, chỉ một bề chú tâm vào lời kinh hay câu chú mà mình đang trì tụng. Tịnh là niệm danh hiệu Phật A Di Đà và niệm Tứ Thánh. Mật là tụng chú Đại Bi hoặc các thần chú khác. Như vậy, Phật tử trì chú trước rồi sau đó mới niệm Phật cũng được không có lỗi gì. Tuy nhiên, trong kinh thường nêu ra có hai hạnh mà người tu cần phải phân định cho rõ ràng. Hai hạnh đó là: "Chánh hạnh và Trợ hạnh". Phần chánh hạnh bao giờ cũng phải đặt nặng và vượt trội hơn. Như Phật tử lấy việc niệm Phật làm chánh hạnh, còn phần trì chú hay tụng kinh hoặc bố thí cúng dường làm mọi việc lành khác... đều là trợ hạnh. Trợ là giúp thêm cho cái chánh hạnh chóng được thành tựu. Tùy theo mỗi tông hay mỗi pháp môn mà hành giả chọn cho mình có chánh và trợ hạnh khác nhau. Nếu Phật tử đang hành trì theo pháp môn Tịnh độ, thì tôi thành thật khuyên Phật tử nên lấy việc niệm Phật làm chánh hạnh và trì chú làm trợ hạnh. Chánh hạnh bao giờ cũng quan trọng mà chúng ta nên tinh cần tu tập hành trì nhiều hơn. Nếu không, thì chúng ta dễ bị rơi vào tạp hạnh. Đã thế, thì Phật tử khó đạt được mục đích cao đẹp mà mình nhắm tới.

 

Thứ hai, lời nói của người nào đó thật tình là họ chưa hiểu rõ về các pháp môn Phật dạy. Phật tử nên biết, tất cả các pháp môn Phật dạy không có pháp nào linh nghiệm hơn pháp nào. Vì pháp nào cũng nhằm mục đích đưa hành giả đến chỗ cứu cánh thành Phật cả. Giáo pháp Phật dạy thì không có vấn đề cao thấp hay sâu cạn. Vạn pháp đều bình đẳng như nhau. Sở dĩ có cao thấp, sâu cạn, là do ở nơi căn cơ trình độ nhận thức sai khác của mỗi người. Mưa thì chỉ có một, nhưng tùy theo các loại cỏ cây, lùm rừng, lớn nhỏ mà hấp thụ sai biệt không đồng. Thuốc thì không có thuốc nào hay hay dở. Bất luận thuốc nào mà trị lành bệnh thì thuốc đó hay thôi. Đức Phật như vị lương y đại tài tùy bệnh mà cho thuốc. Bởi thế, nên mới có câu nói: "Chúng sanh đa bệnh thì Phật đa pháp" là vậy. Niệm Phật hay trì chú hoặc tu bất cứ pháp môn nào, mục đích cũng là để được định tâm. Nếu tâm không định thì phiền não phát sanh. Có dứt hết vô minh phiền não lậu hoặc thì hành giả mới có thể thành tựu được đạo quả. Nếu trì chú với quan niệm cho là có chư thần thường gia hộ để cầu gì được nấy đó là một quan niệm hết sức sai lầm. Trì chú mà còn có cái tâm vọng tưởng mong cầu được lợi lộc cho mình, thì quả là trái với tôn chỉ của việc trì chú. Lời nói đó không hợp với lẽ đạo. Tôi khuyên Phật tử nên tránh chớ có nghe theo mà có hại cho mình. Nếu bảo trì chú mới có chư thần gia hộ, vậy thử hỏi niệm Phật không có chư thần gia hộ hay sao? Nếu chúng ta dụng tâm tu hành chân chánh phù hợp với chân lý, tất nhiên là chư thần lúc nào cũng thường gia hộ cho chúng ta. Bằng trái lại, thì long thần hộ pháp sẽ lánh xa chúng ta. Người nói như thế là vì họ chưa tìm hiểu rõ những gì trong kinh điển đã chỉ dạy. Nếu vì chưa hiểu thì nên tìm hiểu chớ đừng có nói càng bướng mà mang thêm tội lỗi.

 

Thứ ba, như đã nói, Phật tử trì chú trước rồi niệm Phật sau đều được không có gì trở ngại. Tuy nhiên, nếu Phật tử đang hành trì theo pháp môn niệm Phật, thì tôi thành thật khuyên Phật tử nên chuyên tâm niệm Phật là tốt hơn. Còn việc trì chú coi như là phần phụ thuộc mà thôi. Vì niệm Phật hay trì chú mục đích cũng để cho được nhứt tâm. Có như thế, thì việc hành trì của Phật tử mới chóng được thuần nhứt. Bằng không, tu hành mà cái gì cũng muốn hết, e rằng kết quả sẽ không được tốt đẹp như ý. Bởi bắt cá hai tay rốt lại thì không được gì cả. Điều đó chỉ là uổng công vô ích mà thôi. Kính mong Phật tử hãy suy nghiệm thật kỹ điều nầy để chọn cho mình một hướng đi vững chắc và có lợi ích thiết thực vậy.

 

45. Tụng Kinh và trì Chú trước sau lớp lang như thế nào mới đúng?

 

Hỏi: Kính thưa thầy, khi con bệnh thì con đọc kinh Dược Sư, giờ con nghỉ, con chỉ trì chú Dược Sư và trì chú Đại bi vào mỗi buổi sáng, tối đọc kinh Cứu khổ, nay con muốn đọc kinh Vô Lượng Thọ. Như vậy có được không? Nếu được thì con phải tụng đọc vào buổi nào? Và khi tụng con phải bắt đầu như thế nào? Kính mong thầy giải đáp cho con rõ. Con xin cám ơn thầy.

 

Đáp:  Việc thay đổi cách tụng đọc Kinh, Chú, theo như lời Phật tử đã nói thì không có gì là sai trái cả. Xưa kia, khi bệnh Phật tử tụng đọc Kinh Dược Sư, nay thì Phật tử chỉ trì Chú Dược Sư và Chú Đại Bi vào mỗi buổi sáng. Còn buổi tối thì Phật tử tụng đọc Kinh Cứu Khổ. Nay thì Phật tử chỉ muốn tụng đọc Kinh Vô Lượng Thọ. Phật tử hỏi như vậy có được không?

 

Tôi xin thưa ngay với Phật tử là được không có gì trở ngại. Vấn đề tụng Kinh như thế nào cho đúng nghi cách trong khi hành lễ, trong 100 câu hỏi Phật Pháp tập 2, ở trang 56, tôi cũng đã có trình bày rõ về vấn đề nầy. Muốn biết rõ hơn, Phật tử nên tìm đọc lại quyển sách đó. Nếu không có sách, thì Phật tử có thể vào các trang mạng: Quang Minh, Quảng Đức, Tạng Thư Phật Học v.v... đều có. Ở đây, tôi xin được trả lời một cách ngắn gọn vắn tắt mà thôi. Về nghi thức tụng niệm, ở trong các ngôi chùa thuộc hệ phái Phật giáo Bắc tông, thì có hai thời khóa lễ cố định: Thời khuya thường là tụng Chú Lăng Nghiêm và Đại Bi Thập Chú. Còn buổi tối thì thường là tụng Kinh Di Đà. Hai thời khóa lễ sáng, tối nầy đã được chư Tổ ấn định rất rõ, gọi là Nhị thời khóa tụng. Đối với các Kinh, Chú Phật dạy, tùy theo căn duyên ý thích của mỗi người mà chọn lựa trì tụng cho phù hợp. Kinh, Chú nào cũng có thể trì tụng được cả. Tuy nhiên, điều quan trọng là khi tụng đọc ta cần phải hết sức chú tâm và thành ý. Hơn nữa, Khi chúng ta tụng đọc, cần phải hiểu rõ nghĩa lý trong Kinh. Không phải chỉ tụng đọc suông cho có lệ là đủ. Vì có hiểu nghĩa lý trong Kinh Phật dạy, chúng ta mới có thể áp dụng hành trì đúng cách. Và như thế thì mới có lợi ích thiết thực trong đời sống thực tế. Trường hợp của Phật tử thay vì Phật tử trì Chú Lăng Nghiêm và Đại Bi Thập Chú mà Phật tử chỉ trì Chú Dược Sư và Chú Đại Bi thôi, như thế thì cũng được không có sao.

 

Còn Kinh tụng hằng ngày, tùy theo ý thích của Phật tử mà chọn bộ Kinh nào tụng cũng đều được cả. Bởi Kinh nào cũng có công năng thù thắng là phá trừ mê mờ, khai mở tâm trí sáng suốt cho chúng sinh. Trước kia Phật tử tụng Kinh Cứu Khổ nay Phật tử chuyển sang tụng Kinh Vô Lượng Thọ đâu có gì sai trái. Phật tử hỏi phải tụng đọc vào buổi nào? Thường là tụng đọc vào buổi tối thì tốt nhất. Tuy nhiên, điều nầy còn tùy vào hoàn cảnh sinh sống và thời gian thuận tiện của Phật tử nữa. Nếu buổi tối rảnh rỗi thì tôi khuyên Phật tử nên tụng đọc vào buổi tối. Phật tử hỏi khi tụng đọc phải bắt đầu như thế nào? Phật tử cứ y theo nghi thức đã có sẵn ở phần đầu của Kinh Vô Lượng Thọ. Trước khi, ngồi tụng đọc, Phật tử nên thành kính nguyện hương, tán Phật và đảnh lễ Tam bảo. Xong rồi Phật tử ngồi nghiêm trang theo tư thế ngồi bán già hay kiết già tùy ý. Ngồi cách nào miễn thân thể thoải mái thì được. Trong Kinh có nhiều Phẩm tùy ý Phật tử tụng đọc bao nhiêu Phẩm cũng được. Khi ngưng lại, Phật tử nhớ làm dấu để hôm sau tụng tiếp.

 

Kính chúc Phật tử an vui mạnh khỏe tinh tấn tu hành chóng đạt thành sở nguyện.

 

46. Vấn đề thọ hưởng của một người sau khi chết như thế nào?

 

Hỏi:  Kính bạch thầy, trường hợp thân nhân của con chết bên Việt Nam mà con thờ cúng ở Úc, như vậy họ có qua Úc hưởng được không? Mong thầy cho con biết, vì con chưa hiểu vấn đề nầy.

 

Đáp: Theo lời Phật dạy, khi thân xác ta rã ra không có nghĩa là mất hẳn đi. Ngay cả cái xác thân tứ đại do duyên hợp nầy cũng không có mất đi đâu. Thân nầy là do kết hợp bởi bốn yếu tố: đất (chất cứng) nước (thể lỏng) gió (thể hơi) lửa (nhiệt độ).  Bốn thứ nầy thuộc về vật chất. Còn một thứ không phải vật chất mà nó thuộc về tinh thần. Trong Kinh thường gọi là thần thức hay tâm thức. Thuật ngữ chuyên môn của Phật giáo gọi chung cái thân nầy là do "Ngũ Uẩn" kết hợp. Khi hội đủ điều kiện thì tạm có ra; khi thiếu nhân duyên thì thân nầy tan rã. Nhưng tan rã cái hình hài thể chất của thân chớ cái yếu tố để tạo thành thì không có mất. Cái nào nó cũng có cái sở nhân của nó. Như da thịt xương gân v.v... sở nhân của nó là đất. Còn chất dung dịch trơn ướt trong người cái sở nhân của nó là nước. Do mượn nước bên ngoài vào mà tạo thành những dung dịch của chất nước thể lỏng bên trong. Nói tóm lại, khi chết (hoại) cái nào trả về sở nhân cho cái nấy. Còn cái thần thức hay nghiệp thức là vô hình nên không có trả nó đi đâu. Tuy vô hình nhưng chính nó là cái chủ động để tạo nên hình hài. Vậy nghiệp thức là gì? Cái gì để biết mà thụ hưởng? Và sự tồn tại hiện hữu của cái nghiệp thức nầy như thế nào?

 

Nghiệp là tên khác của chủng tử (hạt giống) nghĩa là những thói quen do lặp đi lặp lại mà thành. Thói quen thì có thói quen tốt (thiện) và thói quen xấu (ác). Như thói quen cờ bạc, rượu chè, hút sách xì ke ma túy nghiện ngập v.v... Đó là thói quen xấu. Còn thói quen niệm Phật, tụng kinh, đọc sách, đi chùa v.v... đó là những thói quen tốt.  Còn Thức có nghĩa là hiểu biết. Những thói quen xấu tốt nầy được huân tập vào tàng thức trở thành những hạt giống thiện ác. Như vậy, sau khi chết tùy theo cái thói quen tốt xấu mà chúng ta huân tập trong hiện đời nó dẫn chúng ta đến môi trường tốt xấu để tái sanh. Trong Kinh thường gọi là tùy nghiệp mà chiêu cảm thọ sanh. Trong khi chưa tái sanh để nhận một cái thân ngũ uẩn khác, trong giai đoạn nầy thì gọi là thân trung ấm hay trung hữu. Chính cái thân nầy mà người đời thường gọi là cô hồn. Cô là riêng rẽ một mình; hồn là biết. Tuy gọi là thân nhưng nó không có hình thể vật chất như cái thân tiền ấm nầy. Do đó, nên cái thân trung ấm nầy nó cũng biết đói, biết lạnh, biết nóng, biết no v.v... Cũng như hiện tại cái biết lạnh, đói, no, sợ, lo ... đâu phải là do thân biết mà chính do cái tâm biết. Khi ăn uống, rõ ràng là cái thân không biết ngon dở. Vì cái thân là tổng hợp các bộ phận thuộc về vật chất. Đã là vật chất thì thử hỏi làm sao biết được? Vậy cái biết đó phải là tinh thần. Mà cái biết của tinh thần thì nó không bị hạn cuộc vào vật chất. Như khi chúng ta ngồi một chỗ mà lúc đó chúng ta có thể phóng tâm biết khắp hết. Tuy thân thì đang ở Úc mà chúng ta có thể biết rất rõ những phong cảnh ở Việt Nam. Hoặc bất cứ nơi nào khác mà chúng ta đã đi qua, bây giờ chúng ta nhớ lại không sót một chỗ. Thế thì cái biết đó đâu phải ở nơi thân, vì cái thân thì đang ngồi trong nhà ở Úc mà. Nói thế để Phật tử thấy rằng, dù thân nhân của Phật tử chết ở đâu cũng có thể hưởng dụng những phẩm vật mà Phật tử dâng cúng. Vì sau khi chết, cái thân trung ấm có được ngũ thông (thiên nhãn thông, thiên nhĩ thông, tha tâm thông, thần túc thông, túc mạng thông, chỉ không có được lậu tận thông mà thôi). Đã có ngũ thông như vậy, thì cái gì mà họ không biết. 

 

Phật tử cứ yên tâm đừng lo hương linh của người mất không được hưởng dụng vật thực dâng cúng. Tuy nhiên, sự hưởng dụng đó không ai thấy được. Mỗi loài tùy theo nghiệp báo mà có sự hưởng dụng thực phẩm khác nhau. Trong Kinh có nêu ra nhiều cách hưởng dụng thức ăn khác nhau: Đoàn thực, xúc thực, hương thực, tư niệm thực v.v... Đoàn thực là những thức ăn mà hiện chúng ta đang dùng nó hằng ngày để sống. Như cơm, bánh mì v.v... Xúc thực là chúng ta ăn qua sự tiếp xúc của 5 giác quan: mắt, tai, mũi, lưỡi, thân. Như con mắt thì xem phim ảnh. Còn tai thì nghe các thứ âm thanh hay dở. Hương thực là ăn qua mùi vị của các thứ vật phẩm. Như vậy, các vị vong linh họ hưởng dụng thức ăn bằng hương thực. Khi cúng, Phật tử nên thành tâm và phải hết lòng cầu nguyện. Có như thế, thì người còn và kẻ mất cả hai đều được hưởng dụng ân triêm lợi lạc vậy.   

 

47. Bổn phận của một người tu đối với đất nước quê hương dân tộc như thế nào?

 

Hỏi:  Kính bạch thầy, là một người tu hành khi đất nước lâm nguy, thì trách nhiệm và bổn phận đối với đất nước như thế nào? Nếu con chỉ dốc lòng tu không còn quan tâm đến chuyện thế sự ở quê nhà, thì con có lỗi với tổ tiên tiền nhân đã dầy công dựng nước và giữ nước không? Kính mong thầy khai thị cho chúng con được rõ.

 

Đáp:  Câu hỏi của Phật tử chúng tôi thấy có hai vấn đề rất quan thiết mà Phật tử muốn biết.

 

Thứ nhứt, Phật tử hỏi: Là một người tu hành khi đất nước lâm nguy, thì trách nhiệm và bổn phận đối với đất nước như thế nào?

 

Xin thưa, chuyện tu hành là việc riêng cá nhân của mỗi người. Còn việc tồn vong hưng suy của một đất nước là việc chung mà mỗi cá nhân đều phải có trách nhiệm và bổn phận chung sức gánh vác phát triển và bảo vệ. Không phải tu hành rồi khi đất nước lâm nguy, chúng ta lại dửng dưng khoanh tay ngồi nhìn. Chúng ta đừng quên câu nói: "Quốc gia hưng vong thất phu hữu trách". Hay câu: "Giặc tới nhà đàn bà cũng phải đánh". Nếu nước nhà bị giặc ngoại bang xâm chiếm, thử hỏi bọn chúng có để yên cho chúng ta gõ mõ tụng kinh tu hành hay không? Hay tất cả đều phải làm nô lệ tay sai cho bọn chúng sai khiến. Lịch sử đã chứng minh cho chúng ta thấy rất rõ điều đó. Bài học sống động nổi bật nhất là bài học lịch sử ở thời đại nhà Trần. Thời nhà Trần là thời hoàng kim của dân tộc và Phật giáo. Các ông vua cai trị đất nước đều là những vị Minh Quân Thiền Sư. Điển hình như bốn vị vua của đầu nhà Trần. Từ vua Trần Thái Tông đến vua Trần Minh Tông, tất cả đều là những vị vua tu hành chứng ngộ lý đạo.

 

Trong cuộc kháng chiến chống quân Nguyên, Mông, vua Trần Thái Tông đã hai lần anh dũng hiên ngang chiến thắng vẻ vang mang lại sự an bình cho đất nước. Trong thời vua Trần Nhân Tông, quân Nguyên đã hai lần kéo quân ồ ạt sang lấn xâm chiếm nước ta. Nhưng lần nào bọn chúng cũng đều bị thất bại ê chề não nề thê thảm. Đó là gì? Đó có phải là do sự đoàn kết trên đưới một lòng của toàn quân dân ta hay không? Chính vì sự đoàn kết quyết chiến đó, chúng ta mới có thể chống lại một đội quân hùng hậu hung hãn ở phương Bắc. Bọn chúng đã bị quân dân ta đánh cho họ đại bại tả tơi tan tành không còn một manh giáp che thân và cũng không còn con đường rút lui. Đó là hai cuộc chiến thắng vẻ vang oanh liệt hùng dũng hiên ngang, dưới sự lãnh đạo anh minh sáng suốt của vua Trần Nhân Tông, đã mang lại cho nước Đại Việt một thắng lợi lịch sử hiển hách huy hoàng. 

 

Đến các bậc Thiền Sư tu hành đạt đạo, các Ngài đều là những vị đóng vai trò cố vấn chỉ đạo cho nhà vua. Thế thì, thử hỏi người tu hành đạt đạo có trốn tránh trách nhiệm đối với quê hương tổ quốc hay không? Hay là các Ngài cũng đã dấn thân vào làn tên mũi đạn để cứu nguy dân tộc. Bởi chính những người tu hành đạt đạo họ thấy thân nầy chỉ là bèo bọt hư ảo giả tạm, do đó, nên họ coi sự sống chết nhẹ như bông gòn in như trò huyễn mộng. Vì họ không còn coi nặng xác thân hư ảo như chúng ta. Hơn nữa, với tinh thần "Bi, Trí, Dũng" của đạo Phật, đã rèn luyện hun đúc cho họ có một ý chí mãnh liệt và dám hy sinh xả thân quên mình vì đại cuộc. Thế thì, không phải tu hành là bỏ phế hết mọi việc không quan tâm gì đến sự hưng vong thành bại của đất nước. Đối với người xuất gia tu hành mà còn có trách nhiệm bổn phận đối với đất nước non sông như thế, hà tất gì là người Phật tử tại gia. Tất nhiên, họ còn phải có bổn phận lớn lao hơn nữa. Nói chung, dù xuất gia hay tại gia chúng ta cũng đừng quên rằng, tất cả đều là công dân của một quốc gia Việt Nam vậy.

 

Thứ hai, Phật tử hỏi: Nếu con chỉ dốc lòng tu không còn quan tâm đến chuyện thế sự ở quê nhà, thì con có lỗi với tổ tiên tiền nhân đã dầy công dựng nước và giữ nước không?

 

Xin thưa ngay là có lỗi rất lớn. Trong đạo Phật có nêu ra hai đế: Chơn đế và Tục đế. Chơn đế là đứng về mặt chân lý siêu xuất thế gian. Nghĩa là một thực thể vượt ngoài đối đãi nhị nguyên. Đã thế, thì không còn gì phải suy nghĩ luận bàn. Tuy nhiên, đứng về mặt Tục đế hay Thế giới tất đàn, tất nhiên là đời sống của mỗi cá thể đều có liên quan mật thiết với xã hội. Tuy Phật tử có dốc lòng tu, đó là chuyện giải thoát riêng cá nhân mình. Còn đối với tổ quốc như đã nói, đó là việc chung của mỗi người dân. Phật tử đừng quên, ân đất nước là một trong bốn ân sâu nặng mà người Phật tử phải hằng tâm ghi nhớ. Người không có tổ quốc tức là không có cội nguồn. Đất tổ quê cha là cội nguồn của chúng ta. Tất nhiên là chúng ta cần phải quan tâm đóng góp xây dựng. Dù Phật tử sinh sống ở đâu, nhưng đối với các bậc tổ tiên tiền nhân đã dầy công dựng nước và giữ nước, là hậu sanh chúng ta cũng phải hết lòng khắc sâu ghi nhớ. Đó là một công ơn rất lớn lao mà các ngài đã dầy công tạo dựng. Chúng ta phải có bổn phận duy trì phát triển và bảo vệ.  Nếu không có các vị đó, thì thử hỏi chúng ta có còn là người Việt Nam nữa hay không? Nếu Phật tử không quan tâm gì đến việc nước nhà tất nhiên là Phật tử sẽ có lỗi rất lớn đối với các bậc tổ tiên tiền nhân. Đâu phải ai dốc lòng tu rồi cũng đều quên hết việc đất nước? Nếu ai tu hành cũng quên hết như thế, thì không biết tổ quốc sẽ đi về đâu?

 

Tóm lại, ngoài bổn phận là người Phật tử tại gia ra, Phật tử còn là một người công dân của đất nước. Đã thế, tất nhiên Phật tử phải có bổn phận quan tâm đến việc tồn vong, hưng suy của đất nước, vì nơi đó đã từng ấp yêu cưu mang Phật tử. Nhờ đó mà Phật tử mới có được một cuộc sống an ổn như ngày hôm nay. Thế thì, tất cả chúng ta đều phải có bổn phận và trách nhiệm tùy theo hoàn cảnh và khả năng mà nhiệt tâm tích cực đóng góp xây dựng bằng mọi cách thế cho quê hương đất nước của chúng ta vậy.

 

48. In kinh ấn tống có nên trình qua quý thầy kiểm duyệt trước không?

 

Hỏi:  Kính bạch thầy, khi chúng con muốn ấn tống một quyển kinh dù lớn hay nhỏ, chúng con có nên trình qua quý thầy biết không? Có người nói, nếu không, thì việc in ấn sẽ không có phước. Con không hiểu có phải như vậy không? Kính mong thầy hoan hỷ giải đáp cho chúng con rõ.

 

Đáp: Sự phát tâm in ấn kinh sách là điều rất tốt. Đó là điều mà Phật tử chúng ta nên làm. Tuy nhiên, Phật tử muốn in ấn bộ kinh nào, tốt hơn hết là Phật tử nên trình qua cho chư Tăng, Ni, những vị thông hiểu Phật pháp có trình độ Phật học khá vững chắc để kiểm duyệt trước. Bởi kinh sách lưu hành hiện nay, có lắm người ngụy tạo lộng giả thành chơn. Có những kinh sách nội dung chứa toàn là luận thuyết ngoại đạo mà Phật tử không biết, cứ tưởng là kinh sách của Phật giáo rồi truyền nhau in ấn. Vì thấy trong đó có chữ "Phật" hoặc "Bồ tát", rồi đinh ninh cho là kinh Phật, nên kêu gọi mọi người hùn tiền in ấn phổ biến rộng rãi. Như thế, vô tình người Phật tử tiếp tay truyền bá kinh điển của ngoại đạo mà không hề hay biết. Thật đó là một điều nguy hiểm tai hại vô cùng. Vì Phật tử tại gia đa phần lo bận rộn với công việc mưu sinh nên đâu có thời giờ rảnh rỗi nhiều mà để tâm nghiên tầm học hỏi kinh điển theo hệ giáo lý từ thấp lên cao.  Do vì thiếu hiểu biết nên không thể phân biệt rõ đâu là kinh Phật và đâu không phải là kinh Phật. Nghĩa là chánh tà, chân ngụy không phân biệt rõ ràng. Thế nên, là Phật tử chúng ta nên cố gắng nghiên tầm học hỏi Phật pháp để tránh tình trạng ngộ nhận nầy. Khi in ấn một quyển kinh nào đó, nếu Phật tử chưa hiểu rõ thì nên thưa hỏi với những vị thông hiểu Phật pháp. Nếu in càng, thì sẽ mang trọng tội với Phật pháp vậy.

 

Thỉnh thoảng, tôi thấy có những Phật tử ít tới chùa tu học nên thường hay vấp phải vấn đề nầy. Thế thì dựa vào tiêu chuẩn nào để biết đó không phải là kinh Phật? Xin thưa, chúng ta nên y cứ vào "Tam pháp ấn" hoặc "Tứ pháp ấn" hay "Nhất thật tướng ấn", mà Phật đã dạy. Tam pháp ấn là: "Chư hành vô thường, chư pháp vô ngã và Niết bàn tịch tịnh". Còn Tứ pháp ấn là: "Khổ, không, vô thường và vô ngã". "Nhất thật tướng ấn là chân lý tuyệt đối vượt ngoài đối đãi nhị nguyên". Tại sao gọi là pháp ấn? Bởi đây là những thứ chân lý muôn đời bất di bất dịch. Ấn là in như cái mọc in xuống tờ giấy trắng. Cái mọc như thế nào thì nó in xuống như thế nấy, một mảy may không hề sai lệch. Bất luận kinh điển nào ngoài những pháp ấn nầy thì đó không phải là kinh điển của Phật giáo. 

 

Còn Phật tử nói, có người nào đó nói nếu không trình cho quý Thầy biết, thì việc in ấn sẽ không được phước báo. Người nói như thế có thể có hai lý do: Một là, nếu in ấn kinh sách mà không trình cho chư Tăng, Ni kiểm duyệt trước, lỡ in nhằm kinh sách của ngoại đạo thì quả thật là không có phước báo chi cả. Chẳng những không có phước báo mà còn mang thêm tội lỗi nữa. Hai là, không có sự chứng minh của Tăng, Ni thì cũng không có được phước. Qua hai lý do nêu ra, lý do thứ nhứt là đúng. Còn lý do thứ hai, nếu in kinh sách mà đúng với chánh pháp thì dù cho không có chư Tăng, Ni chứng minh, thì thí chủ cũng vẫn được phước báo. Vì đó là bố thí pháp tất nhiên công đức rất lớn lao. Sao lại nói là không có phước?

 

Tóm lại, khi Phật tử phát tâm in ấn kinh sách thì tôi thành thật khuyên Phật tử nên hết sức cẩn thận. Nếu quyển kinh nào Phật tử còn nghi ngờ chưa hiểu rõ, thì Phật tử nên trình qua cho chư Tăng, Ni, những vị thông hiểu Phật pháp để xem qua. Sau khi duyệt kỹ, không có gì trở ngại, thì Phật tử sẽ in ấn theo sở nguyện của mình.

 

Kính chúc Phật tử thăng tiến mãi trên con đường tu tập và sẽ đạt được nhiều kết quả lợi lạc theo sở nguyện.

 

49. Đi chùa bị cản trở phải ứng xử như thế nào cho đúng?

 

Hỏi:  Kính bạch thầy, khi con xin người chồng đi chùa, thì anh ấy vui vẻ cho đi, nhưng không hiểu sao lúc con trở về nhà, thì mặt anh ta quạu quọ và rồi kiếm chuyện la rầy con. Con không dám đi nữa vì con sợ anh ấy tạo thêm nghiệp. Như vậy, xin thầy cho con biết ý kiến con phải ứng xử như thế nào mà gia đình không bị xáo trộn bất hòa?

 

Đáp: Qua sự trình bày về hoàn cảnh khó khăn đi chùa của Phật tử, thật chúng tôi rất thông cảm và cũng muốn chia sẻ góp chút thành ý cùng với Phật tử đôi điều. Hay nói đúng hơn, Phật tử hãy xem đây là những lời khuyên giải chân thành của chúng tôi. Hy vọng có thể giúp cho Phật tử phần nào để giải quyết trong vấn đề khó khăn nầy.

 

Như Phật tử đã biết, việc cãi vã bất hòa trong gia đình, đó là chuyện thường xảy ra mà hầu như ít nhiều gì gia đình nào cũng có. Tuy nhiên, cường độ xảy ra nặng hay nhẹ, nhiều hay ít là còn tùy thuộc vào việc khéo biết tế nhị cư xử của hai người. Điều quan trọng để giữ được mái ấm hạnh phúc trong gia đình là mỗi người cần phải thành thật "yêu thương, hiểu biết và cảm thông" với nhau. Ngoài ba yếu tố hệ trọng nầy ra, thật khó đảm bảo cho gia đình được êm ấm hạnh phúc. Hầu hết sự xung đột mâu thuẫn cãi vã xảy ra trong gia đình đều do chúng ta thiếu "Tình thương, Hiểu biết và Thông cảm". Có thật sự thương yêu thì không ai nỡ nặng lời hay hành hạ làm khổ đau cho nhau.

 

Theo lời Phật dạy, gia đình là kết quả của một cọng nghiệp. Mỗi thành viên trong gia đình là có mỗi biệt nghiệp khác nhau. Biệt nghiệp là thói quen xấu hoặc tốt riêng của mỗi cá nhân. Vì thế, mỗi người đều có mỗi cá tính và sở thích khác nhau. Như Phật tử thích đi chùa đó là một thói quen tốt. Còn ông không thích đi chùa đó cũng là một thói quen của ông. Tuy ông không thích đi chùa nhưng ông vẫn vui vẻ cho Phật tử đi đó cũng là điều tốt của ông. Mình không nên bắt người khác phải làm theo ý mình. Mình có sở thích nầy thì người khác có sở thích nọ. Bởi căn duyên và sự huân tập chủng tử thành tánh của mỗi người khác nhau. Hiểu thế thì mới thông cảm cho nhau.

 

Phật tử nói, khi Phật tử xin người chồng đi chùa thì anh ấy vui vẻ cho đi, nhưng không hiểu sao lúc Phật tử trở về nhà, thì mặt anh ta quạu quọ và rồi kiếm chuyện la rầy Phật tử. Điều nầy, theo tôi, thì Phật tử cũng nên suy xét kiểm nghiệm lại thật kỹ lý do tại sao như thế?  Phật tử nên biết rằng, bất cứ việc gì xảy ra cũng đều có cái nguyên nhân nội tại của nó. Dù đó là nguyên nhân gần hay xa. Có những nguyên nhân gây ra hơi xa mà Phật tử quên không để ý. Những nguyên nhân đó có thể là do nơi thái độ, hành động hoặc lời nói bất cẩn khiếm nhã của mình, làm cho người khác cứ mãi ôm ấp trong lòng sự hờn giận bực tức mà mình không hề quan tâm hay biết. Phật tử thử nghĩ, nếu không có lửa thì làm sao có khói? Tôi khuyên Phật tử nên chịu khó suy xét tìm hiểu kỹ rõ vấn đề. Nếu ông ta thật sự khó khăn hay có ác cảm, thì tại sao khi Phật tử xin đi chùa thì ông ta lại vui vẻ cho đi? Đã vui vẻ cho đi thì tại sao khi Phật tử trở về thì ông lại có thái độ hằn hộc quạu quọ như thế? Người xưa nói: "Tiên trách kỹ hậu trách bỉ". Nghĩa là trước phải trách mình rồi sau mới trách người. Phật tử nên kiểm điểm lại lỗi mình trước. Xem mình có thái độ, lời nói, hoặc làm điều gì đó mà gây ra cho ông ta bực mình tức giận khó chịu hay không? Nhiều khi, mình nghĩ mình đi chùa là mình biết tu hành, còn người khác không đi chùa thì mình lại tỏ thái độ coi thường và cho họ là không biết tu hành như mình. Điều tế nhị nầy có đôi khi mình không để ý. Nếu thế, chứng tỏ là mình chỉ biết đi chùa chớ chưa biết tu. Tu là phải thường xuyên quán chiếu lại mình để sửa đổi chuyển hóa những lỗi lầm ở nơi ba nghiệp: "Thân, Ngữ, Ý". Nghĩa là phải dẹp bớt tham, sân, si v.v... Thế mới gọi là tu.

 

Trong trường hợp của Phật tử, Phật tử thử xét lại việc đi chùa của Phật tử từ trước tới nay như thế nào. Phật tử đã đi chùa nhiều lần hay chỉ mới đi lần đầu. Nếu đã đi nhiều lần thì những lần trước ông có tỏ thái độ quạu quọ la rầy như thế không? Và nếu chỉ mới đi lần đầu thì Phật tử xét lý do tại sao mà ông nổi cáo la rầy như thế? Khi Phật tử xin đi ông có thật sự vui vẻ không? Hay là lúc Phật tử xin đi thì ông đồng ý trong sự hờn lẫy. Trước đó Phật tử có làm gì phật lòng gây cho ông buồn phiền không? Nghĩa là Phật tử nên xét lại mình trước. Biết đâu Phật tử đã làm điều gì đó gây cho ông bất mãn buồn phiền nên hôm nay ông mới có thái độ giận trách như thế. Phật tử nên nhớ, việc tu hành hay đi chùa đó là việc riêng của mình. Không phải vì việc riêng mà mình lại bỏ phế việc chung. Việc chung đó là bổn phận và trách nhiệm bảo vệ mái ấm hạnh phúc gia đình. Có đôi khi vì nghĩ đến việc riêng cá nhân của mình nhiều quá mà làm cho người khác phải bực tức khó chịu. Lẽ ra, người biết tu hành thì sẽ đem lại cho gia đình có nhiều hạnh phúc an vui, nhưng ngược lại chẳng những không có hạnh phúc an vui mà còn gây thêm sự bất hoà đổ vỡ tan nát. Có biết bao gia đình đã vấp phải lỗi lầm nầy. Nếu như trong gia đình cả hai người chồng và vợ đều biết tu hoặc cùng nhau đi chùa tu học, thì điều nầy tương đối còn có dễ thông cảm hiểu biết nhau hơn. Ngược lại, trường hợp của Phật tử thì lại khác.

 

Khi quán chiếu biết rõ nguyên nhân, nếu như Phật tử xét thấy mình có lỗi lầm gây ra làm cho ông ta bực bội khó chịu, thì Phật tử nên dùng lời nhỏ nhẹ hòa nhã để thành thật xin lỗi ông. Người biết tu là người khéo biết dùng lời ái ngữ và lắng nghe. Đó là noi theo hạnh nguyện  cao cả tuyệt vời của Bồ tát Quan Thế Âm. Khi một người nói thì người khác phải chịu khó lắng nghe. Lắng nghe trong sự yêu thương và trầm tỉnh. Có thế thì mới thực sự hòa giải và xây dựng hạnh phúc gia đình. Tục ngữ có câu: "Lời nói không mất tiền mua, lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau". Hay "Chim khôn kêu tiếng rảnh rang, người khôn nói tiếng dịu dàng dễ nghe". Cũng một lời nói và một thái độ nếu chúng ta khéo biết cư xử êm dịu hòa nhã thật lòng với nhau thì sẽ đem lại niềm an vui hạnh phúc cho nhau. Bằng ngược lại, thì chỉ gây thêm cho nhau sự đau khổ mà thôi.

 

Cách hay nhứt trong trường hợp của Phật tử là Phật tử nên khéo léo ứng dụng theo lời Phật dạy để xử sự bằng tất cả tấm lòng thành thật, hòa ái, yêu thương đối với người chồng của mình. Đồng thời, cũng nên nói rõ về nguyện vọng của mình để cho ông hiểu và thông cảm. Ngược lại, ông cũng phải tôn trọng cái sở thích hay thói quen tốt của người vợ mình. Nghĩa là cả hai cần phải thiết lập truyền thông bày tỏ với nhau trong tình yêu thương thực sự. Có thế, thì mới có thể cảm thông và tháo gỡ những gút mắc nội kết mà lâu nay hai người chưa có dịp nói ra để tìm cách tháo gỡ. Đừng vì tự ái thỏa mãn cho cái lợi ích cá nhân mình mà làm cho người khác phải khó chịu tức giận. Dù đó là một sự lợi ích của vấn đề tâm linh. Bởi cuộc sống cần có sự hỗ tương đồng cảm với nhau giữa hai người. Sự đồng cảm hỗ tương đó tất nhiên là phải được xây dựng trên nền tảng yêu thương. Đó là phương cách để giữ vững mái ấm hạnh phúc gia đình. Nếu vì việc đi chùa mà gây thêm sự rắc rối phiền phức không vui trong gia đình thì thử hỏi đi chùa đâu có lợi ích gì?! Một khi ông đã hiểu rõ nguyện vọng thiết tha của Phật tử rồi, thì chắc chắn là ông sẽ thông cảm hoan hỷ để cho Phật tử được tròn ý nguyện. (Theo các chuyên gia về khoa tâm lý cho biết, bản chất chung của phái nam bao giờ họ cũng có tấm lòng hỷ xả độ lượng bao dung và dễ tha thứ hơn phái nữ. Họ không có cái tâm ích kỷ hẹp hòi cố chấp bảo thủ thù ghét dai như phái nữ. Và bất cứ người đàn ông nào cũng thích cách đối xử mềm mỏng tế nhị và lời nói ngọt ngào êm dịu của người đàn bà"). Tuy nhiên, muốn được thế, thì Phật tử cũng nên làm tròn trách nhiệm bổn phận của một người vợ hiền và một người mẹ tốt trong gia đình.

 

Kính chúc Phật tử luôn được an vui hạnh phúc và chóng đạt thành sở nguyện.

 

 50. Tượng Phật để trong tủ kiếng có lỗi không?

 

Hỏi:  Kính bạch thầy, con được con cháu tặng cho nhiều tượng Phật. Con đã thờ các vị đó trên bàn thờ, còn số tượng còn lại, con chưng bày trong tủ kiếng. Như vậy xin hỏi con có tội hay không?

 

Đáp: Xin thưa, Phật tử chưng bày như thế thì đâu có tội lỗi gì. Tuy nhiên, Phật tử không nên chưng bày các tôn tượng Phật hay Bồ tát xen tạp với những đồ vật linh tinh khác. Vì như thế, thật khó coi và mất đi sự tôn kính. Nếu như Phật tử chưng bày các tôn tượng trong một hay hai ngăn tủ (tùy theo các tôn tượng nhiều ít) thì tốt nhứt. Chưng bày như thế thì vừa trang nhã đẹp mắt mà cũng vừa có sự tôn kính các Ngài. Tuy vẫn biết Phật tử chỉ chưng bày thôi chớ không phải là để thờ. Nhưng chúng ta cũng nên đặt các Ngài vào một vị trí riêng biệt. Tượng Phật hay Bồ tát chưng bày trong tủ kiếng thì tránh được bụi bặm bám vào. Như thế thì tốt chớ có sao đâu. Đâu có tội lỗi gì mà Phật tử phải ngại ngùng lo sợ. Chỉ sợ khi nào Phật tử đặt các Ngài vào một vị trí bất tịnh hay để bừa bãi, như thế mới là có tội. Đó là mang cái trọng tội thất kính. Thật ra, người ta điêu khắc đúc tạo tượng Phật hoặc Bồ tát với mục đích là để cho chúng ta tôn thờ chớ không phải là để chưng bày. Bởi chưng bày mang tính cách triển lãm để cho mọi người thẩm quan chiêm ngưỡng thưởng thức đó thôi. Nhưng sự chưng bày nầy người ta thiết kế trang hoàng ở một khung cảnh đặc biệt. Bởi đó là kết quả của một công trình điêu khắc tác tạo đầy tính chất thẩm mỹ nghệ thuật. Trường hợp của Phật tử chỉ vì không còn chỗ để tôn thờ, nên mới chưng bày như thế. Vì Phật tử  muốn giữ lại để làm kỷ niệm của con cháu hiến tặng. Điều đó rất tốt không có gì là tội lỗi cả.

 

51. Bị tam tai niệm danh hiệu Phật có giải được nạn không?

 

Hỏi:  Kính thưa thầy, con năm nay 39 tuổi, người ta nói là con bị tam tai, nghe thế, trong lòng con luôn bất an, con thường niệm danh hiệu Phật A Di Đà, không biết con có được giải nạn không? Con đã quy y Tam bảo rồi, con có được cúng giải hạn tam tai không? Kính xin thầy giải đáp cho con rõ.

 

Đáp: Trong câu hỏi của Phật tử chúng tôi thấy có ba vấn đề hệ trọng liên quan đến niềm tin mà Phật tử thắc mắc nghi ngờ. Thứ nhứt, Phật tử nghe người ta nói tuổi của Phật tử năm nay 39 là cái tuổi bị nạn tam tai, nghe vậy Phật tử đâm ra hoang mang lo sợ bất an.

 

Qua điều thắc mắc nghi ngờ nầy, chứng tỏ Phật tử chưa có đủ niềm tin về lý nhân quả. Bởi chưa hiểu rõ về nhân quả nên Phật tử mới đâm ra hoang mang lo sợ bất an như thế. Mặc dù Phật tử đã tu theo Phật, nhưng Phật tử không tin lời Phật dạy mà lại tin vào người khác nói. Thử hỏi người nói đó có hơn Phật, Bồ tát hay các bậc Tổ sư  không? Đã không hơn thì tại sao Phật tử lại tin vào lời nói vô căn cứ của họ? Tam tai là gì? Phật tử có hiểu tam tai chưa? Người nói đó họ dựa vào đâu mà dám nói cái tuổi 39 là bị tam tai? Như vậy hễ ai đến tuổi 39 là đều bị tam tai hết sao? Mà đã bị tam tai thì đâu có ai vượt qua khỏi cái tuổi ba mươi chín. Thế là cả nhơn loại tới tuổi đó đều phải bị tam tai chết hết. Nhưng thực tế hiện nay người ta đang lo sợ về tình trạng nhân mãn. Vì nhơn loại đông quá thì làm sao trái đất có thể dung chứa hết và tất nhiên là sẽ không thể cung cấp đầy đủ thực phẩm cho chúng ta dùng? Do đó, nên người ta phải hạn chế bớt việc sanh sản để tránh tình trạng nhân mãn.

 

Người Phật tử vì thiếu học hỏi về Phật pháp, nhất là về lý nhân quả, nên dễ bị người ta gạt gẫm hù dọa. Tam tai nói đủ là Tam tai kiếp. Trong Kinh có nêu ra hai loại Tam tai: Tiểu tam tai và Đại tam tai. Tiểu tam tai gồm có ba tai ách: 1. Đao binh tai (dùng hung khí sát hại lẫn nhau). 2. Tật dịch tai (bệnh truyền nhiễm lây lan). 3. Cơ cẩn tai (do hạn hán sinh ra đói kém). Ba tai nạn nầy nếu có xảy ra thì đâu phải chỉ có một mình Phật tử gánh chịu, mà tất cả nhơn loại đều phải chịu chung số phận, bởi đó là cọng nghiệp không ai tránh khỏi. Trong quyển Từ Điển Phật Học Huệ Quang, Tập 5, trang 4165 có nêu ra Tiểu tam tai và Đại tam tai như sau: Về Tiểu tam tai thì gồm có:

 

a. Cơ cẩn tai: Tuổi thọ con người từ 84000 tuổi cứ một 100 năm giảm một tuổi, giảm đến khi 30 tuổi thì trời hạn hán không mưa, cây cỏ không mọc, vô lượng nhân dân ở thế gian bị đói kém mà chết.

 

b. Tật dịch tai: Khi tuổi thọ con người giảm xuống còn 20 tuổi thì các thứ bệnh xuất hiện, vô lượng nhân dân ở thế gian bị mắc bệnh mà chết.

 

c. Đao binh tai: Khi tuổi thọ con người giảm xuống còn 10 tuổi thì mọi người sinh ra sự tranh đấu, tay cầm cỏ cây cũng biến thành dao gậy, tàn hại lẫn nhau, vô lượng nhân dân ở thế gian bị chết bởi đao binh.

 

Còn Đại tam tai gồm có ba tai ách lớn: Hỏa tai, thủy tai,  phong tai.

 

a. Hỏa tai: vào kiếp Hoại thì có 7 mặt trời xuất hiện, mặt đất và núi Tu di dần dần bị sụp đổ, nước trong 4 biển lớn lần lượt cạn hết, cõi Dục và các tầng trời Sơ thiền đều bị thiêu hủy, không còn sót lại gì.

 

b. Thủy tai: Từ cõi Sơ thiền trở xuống trải qua 7 lần hỏa tai thì thế giới lại thành. Vào thời Hoại kiếp dần dần có mưa lớn, hạt nước lớn như bánh xe, lại có thủy luân dưới đất bắn vọt lên, từ cõi Dục đến tầng trời Nhị thiền đều bị ngập lụt, tất cả đều hoại diệt, như hạt muối bị tan trong biển nước.

 

c. Phong tai: Từ cõi Nhị thiền trở xuống trải qua 7 lần thủy tai, lại trải qua 7 lần hỏa tai phá hoại cõi thế gian, đến khi thế giới hình thành trở lại, rồi đến kiếp Hoại, từ lớp phong luân phía dưới có gió mạnh nổi lên, cộng với sức nghiệp của chúng sinh đã hết cho nên nơi nào cũng nổi gió, từ cõi Dục cho đến các tầng trời Tam thiền thảy đều bị gió đánh bạt, sạch hết không còn gì.

 

Đó là Tam tai mà chúng tôi lược dẫn trong Kinh điển đã nói, để cho Phật tử thấy rằng, khi mà Tiểu Tam tai và Đại tam tai xuất hiện, không phải chỉ có ở thế gian nầy thôi mà cả đến các tầng trời cũng đều bị hủy diệt. Như thế thì đâu phải chỉ có một mình Phật tử ở cái tuổi 39 mới bị tam tai như thế. Thế thì, Phật tử cứ yên tâm đừng lo sợ về vấn đề tam tai nầy nữa.

 

Thứ hai, Phật tử nghi ngờ rằng, hiện Phật tử thường niệm danh hiệu Phật A Di Đà, không biết Phật tử có giải hạn được không? Xin thưa ngay là chẳng những Phật tử được giải nạn mà còn tiêu trừ vô lượng tội chướng nữa. Tuy nhiên, với điều kiện là Phật tử phải hết sức chí thành tha thiết niệm hồng danh sáu chữ Di Đà, và phải tịnh niệm nối luôn không xen hở gián đoạn, thì nạn chướng nào cũng đều tiêu tan hết. Bởi danh hiệu Phật A Di Đà có vô lượng công đức bất khả tư nghì. Phật tử chuyên tâm trì niệm không luận thời gian và nơi chốn lúc nào Phật tử cũng hằng nhớ đến Phật. Được thế, thì đâu còn gì phải lo sợ nạn chướng, vì hiện tiền Phật tử đã được an định và sau khi mạng chung Phật tử sẽ được Đức Phật A Di Đà và các hàng Thánh chúng tiếp dẫn Phật tử vãng sanh về cõi Cực lạc. Một khi đã được vãng sanh về Cực lạc rồi, thì đâu còn nạn chướng gì nữa mà Phật tử phải lo giải nạn? Phật tử nên nhớ pháp môn niệm Phật không ngoài ba chữ: "Tín, Nguyện, Hạnh". Nói gọn là Phật tử phải "Tin sâu, Nguyện thiết và Hành chuyên". Vì phạm vi trả lời câu hỏi có giới hạn, nên chúng tôi không thể giải thích rộng rãi được. Tôi khuyên Phật tử nên tìm đọc thêm những Kinh sách nói về pháp môn Tịnh độ để Phật tử có thể tìm hiểu cặn kẽ hơn và có đủ tín tâm niệm Phật cầu vãng sanh.

 

Thứ ba, Phật tử hỏi là Phật tử đã Quy y Tam bảo rồi, Phật tử có được cúng giải hạn Tam tai không? Điều nầy, như trên đã nói, Tam tai đâu phải chỉ riêng có mình Phật tử nhận lãnh, mà cả thiên hạ đều phải chịu chung kia mà. Thay vì cúng giải hạn, thì tại sao Phật tử không chịu lo tu hành làm lành lánh dữ? Nếu tất cả thiên hạ ai cũng đều lo làm lành lánh dữ, trì trai giữ giới, niệm Phật tu hành chơn chánh, thì lo gì thiên hạ chẳng được an ổn thái bình và cũng đâu có tai nạn gì nữa để mà cúng bái giải trừ. Thử hỏi ai gây ra tai nạn cho mình? Và ai có quyền giải nạn cho mình? Tai nạn có ra cũng chính do mình gây ra thì tại sao mình không lo tự cởi trói giải nạn cho mình? Chư Phật, Bồ tát hay các vị thần linh không một ai có quyền giáng họa hay ban phước cho mình cả. Phật tử nên biết, họa hay phước đều do mình tạo ra, không ai tạo ra cho mình. Cũng như mình tạo tội gian ác cướp của giết người bị nhà cầm quyền bắt tống giam vào trong lao ngục, thử hỏi mình có đổ thừa cho người khác được không? Trên đời nầy ai ăn nấy no, ai học nấy biết chữ, không ai ăn thế hay học thế cho ai được cả. Tội lỗi ai gây ra thì kẻ đó phải chịu nhận lấy. Đó là luật nhân quả rất công bằng. 

Phật tử đã Quy Tam bảo rồi mà còn nghĩ đến việc cúng kiếng cầu khẩn van xin giải hạn như thế thì quả thật đã trái với lời Phật dạy. Tốt nhứt là Phật tử nên hằng quán chiếu lại tự tâm mình để lo tự giải trừ những thứ phiền não ở nơi tâm mình. Đó mới thực sự là người Phật tử   chơn chánh tu học đúng theo lời Phật Tổ chỉ dạy vậy.

 

Kính chúc Phật tử luôn sáng suốt và có đủ nghị lực vượt qua mọi khó khăn trong cuộc sống.

 

53. Cúng giỗ ông bà như thế nào, thì ông bà mới được lợi ích và khỏi tội.

 

Hỏi:  Kính bạch thầy, gia đình và dòng họ con mỗi lần vào dịp cúng giỗ ông bà thường hay giết gà hoặc mua thịt để cúng, hầu hết người Hoa là như vậy (con dân tộc Hoa). Sau khi đọc nghiên cứu kinh sách của Phật giáo thì con đã nhận ra là hồi đó tới bây giờ ông bà ta đã làm sai, con đã góp ý cho ba nhưng ba con cố chấp nói đó là phong tục của ông bà để lại không thể thay đổi và ông cũng không tin vào nhân quả nghiệp báo. Con thấy như vậy rất buồn, vì không biết thì thôi chứ biết rồi mà vẫn còn làm sai con chịu không được. Bây giờ con không biết phải làm sao để cho ba con thay đổi xin thầy hãy giúp con. Cám ơn thầy.

 

Đáp: Qua câu hỏi nầy tôi rất cảm thông cho tấm lòng tốt của Phật tử. Tuy nhiên, Phật tử nên biết, niềm tin không thể ép buộc mà có được. Niềm tin đối với con người rất là hệ trọng. Mỗi người đều có những niềm tin khác nhau. Mỗi người đều có căn duyên và nghiệp quả sai biệt. Thường trong nhà Phật có nêu ra hai loại nghiệp: Biệt nghiệp và Cọng nghiệp. Biệt nghiệp là tập quán hay thói quen riêng của mỗi người. Tập quán nầy là do sự huân tập ở môi trường xã hội mà có. Còn cọng nghiệp là nghiệp chung của nhiều người. Nói cách khác là tập quán phong tục của một cộng đồng. Như Phật tử nói, dòng họ của Phật tử mỗi khi cúng giỗ thì ông bà thường hay giết gà hay mua thịt để cúng, hầu hết người Hoa là như vậy. Đây là một tập quán chung của cộng đồng người Hoa. Tập quán nầy do từ ông bà tổ tiên truyền lại. Tuy nhiên, không có tập quán nào là cố định cả. Bởi tập quán cũng do con người tạo ra mà thành. Thế thì ta cũng có quyền cải đổi tập quán, nếu xét thấy tập quán đó lỗi thời không còn phù hợp với thời đại văn minh tân tiến nữa. Nhất là không phù hợp cho đời sống hướng thượng đạo đức tâm linh của ta. Nếu duy trì một tập quán mà có hại cho ta và rộng ra là cho cả nhân quần xã hội thì, ta nên cương quyết mạnh dạn dứt khoát từ bỏ tập quán đó.

 

Hiện chúng ta đang sống trong thời đại văn minh khoa học, những tập tục nào còn mang tính cách mê tín dị đoan, chắc chắn tập tục đó sẽ bị đào thải, vì không thể tồn tại dưới ánh sáng văn minh chiếu soi của khoa học. Đạo Phật dạy ta, một niềm tin không điều động bởi lý trí sáng suốt thì đó là niềm tin mù quáng phản chân lý. Thay vì giết hại sinh vật để cúng tế gây thêm nghiệp sát cho ta và cho ông bà ta, thì tại sao ta không cúng bằng những thực phẩm chay thuần khiết, nó vừa đơn giản mà cũng không có gây ra tội lỗi. Như thế thời cả hai kẻ còn và người mất đều có lợi lạc vậy.

 

Cúng giỗ tổ tiên ông bà là một tập tục thuần mỹ cao đẹp, bởi đó là một truyền thống văn hóa cổ truyền của một dân tộc mà chúng ta cần phải có bổn phận duy trì. Thật ra ngày kỵ giỗ chẳng qua đó là một kỷ niệm nhằm để tưởng nhớ đến thâm ân của người đã khuất. Mục đích cũng là để nhắc nhở cho những người còn sống nên noi theo tấm gương tốt của người đã mất. Và đó cũng còn là để bày tỏ mối dây tình cảm thiêng liêng giữa người sống và người chết. Đã là kỷ niệm thì đâu cần phải sát sanh hại vật cúng tế bày biện linh đình. Thực tế, thì có ông bà nào hiện về hưởng dụng những thứ đó đâu. Thử hỏi một năm con cháu mới cúng cho ông bà ăn một lần, vậy thì còn lại 364 ngày khác ông bà ăn uống ở đâu? Nếu không có ai cúng thí thì ông bà chắc phải đói khát. Như vậy, vô tình chúng ta lại bỏ đói ông bà của chúng ta rồi. Thật ra, đâu có ông bà nào phải chịu đói khát chờ đợi một năm mới được hưởng dụng của con cháu cúng cho ăn một lần. Giả như khi cúng mà ông bà hiện về ăn uống thì chúng ta nghĩ sao? Chắc là ai nấy cũng đều khiếp đảm run sợ mà bỏ chạy trốn hết. Thế thì, cuối cùng ai là người hưởng thụ những vật thực cúng đó? Tất nhiên là ta và thân nhân bạn bè thân thuộc của ta. Viện cớ là cúng cho ông bà rồi giết hại nhiều sinh vật để con cháu thân nhân bạn bè tiệc tùng ăn nhậu thỏa thuê cho khoái khẩu. Như vậy, kể ra cũng thật đáng xót thương và tội nghiệp cho ông bà ta lắm! Nghĩa là ông bà không có ăn được gì mà phải chịu mang tai tiếng và thậm chí còn phải chịu tội vạ lây nữa. Thay vì ông bà được siêu thoát thì ta lại tạo thêm nghiệp sát làm cho chúng sinh phải đau khổ vì mình. Như vậy thử hỏi có lợi ích gì không? Hay là chỉ làm khổ thêm cho ông bà của chúng ta mà thôi! Còn sống không cho ăn đợi đến sau khi chết rồi làm cổ tiệc linh đình để cho ai ăn? Nếu mình thật sự thương ông bà cha mẹ của mình thì mình không nên làm cho ông bà cha mẹ mình phải chịu thêm nhiều khổ lụy. Nếu mình và họ hàng thân thuộc chưa có thể ăn chay được, thì mình cũng có thể nấu cúng cho ông bà một mâm cơm chay riêng. Còn phần mình và họ hàng bạn bè thân thuộc tùy ý muốn đãi như thế nào cũng được. Như thế, ông bà sẽ khỏi mang tiếng là vì ông bà mà mình sát sanh hại vật. Tội ai gây thì người đó phải chịu nhận lấy. 

 

Nhờ học hỏi giáo lý Phật dạy nên Phật tử đã ý thức được việc sát sanh hại vật là một trọng tội. Do vậy, vì thương cha nên Phật tử mới khuyên cha thay đổi việc cúng đó bằng cách là đừng giết hại sinh vật nữa. Nhưng rất tiếc là người cha không chịu nghe và ông cũng không tin nhân quả nghiệp báo. Thế là Phật tử mới đâm ra âu lo buồn lòng! Điều nầy chứng tỏ Phật tử là người con có hiếu không muốn cho cha mình phải gây thêm tội sát sanh mà phải mang tội khổ. Nhưng xin thưa với Phật tử, trong Kinh có nêu ra một hạng chúng sinh gọi là Nhứt xiển đề, Trung Hoa dịch là Bất tín cụ. Nghĩa là hạng người nầy họ không có đủ niềm tin. Như Phật tử đã nói, ông thân của Phật tử không tin vào nhân quả nghiệp báo. Một người khi đã có định kiến cố chấp như thế, muốn chuyển hóa họ bỏ đi một định kiến sai lầm thì thật không phải là chuyện dễ dàng. Vì lúc nào họ cũng bảo thủ cái định kiến của họ. Điều nầy tôi thành thật khuyên Phật tử nên cố gắng kiên nhẫn, đừng bao giờ tỏ thái độ mình là người hiểu đạo rồi khuyên ông phải làm như thế nầy hay như thế kia. Tuy bây giờ ông chưa tin vào luật nhân quả báo ứng, nhưng hạt giống Phật trong tâm của ông vẫn luôn hiện hữu. Khi cơ duyên đến thì chắc chắn là ông sẽ hồi tâm chuyển ý hướng thiện làm lành. Chừng đó biết đâu ông sẽ phát khởi tín tâm còn mạnh hơn Phật tử nữa. Bởi cuộc sống ở thế gian là một chuỗi dài đau khổ. Một khi ông đã nghiệm rõ ở nơi bản thân cũng như những hoàn cảnh chung quanh không có gì thoát ngoài nhân quả, hy vọng chừng đó ông sẽ thức tỉnh tu hành làm lành lánh dữ và ông sẽ không còn gây tạo nghiệp sát nữa. Điều quan trọng, thay vì Phật tử khuyên ông, thì Phật tử nên biểu hiện hành động của mình trong nếp sống đạo đức thanh cao đúng theo lời Phật dạy. Như Phật tử trước kia cũng đâu có hiểu nhân quả nghiệp báo là gì, nhưng khi nhân duyên đến thì Phật tử mới thức tỉnh tu hành và ý thức được vấn đề tội lỗi. Vậy thì, tôi thành thật khuyên Phật tử không nên sầu muộn làm gì, vì mỗi người có mỗi biệt nghiệp khác nhau. Nhân duyên nghiệp báo thiện ác của mỗi người thật khó luận bàn hết được. Vì Phật tử hỏi nên tôi xin góp chút thành ý đó thôi. Thật ra lúc nào tôi cũng tôn trọng niềm tin của mỗi người. Tuy nhiên, dù niềm tin nào cũng phải dựa trên nền tảng chân lý nhân quả. Như thế thì niềm tin đó mới thực sự có lợi ích cho mình và người.

 

Kính chúc Phật tử luôn sống trong ánh hào quang của chư Phật.

 

54. Khi đã lỡ gây ra nghiệp ác, nay biết hối cải ăn năn thì còn có tội nữa không?

 

Hỏi:  Kính thưa thầy, con là một Phật tử thường xuyên đi chùa lạy Phật và làm việc từ thiện giúp người. Tuy nhiên, có nhiều lúc do lòng tham lam sai khiến, con không kềm chế được, nên đã trở thành một người phạm pháp bị giam cầm tù tội. Khi vào tù, những lúc yên tĩnh trong đêm khuya thanh vắng, bỗng con nhớ lại lời Phật dạy, con cảm thấy mình thật là xấu hổ. Từ đó, ngày đêm con thành tâm niệm Phật và lạy sám hối ở Multi Faiths Chapel (đây là nơi hành lễ cho mọi sắc tộc). Con đã trả hình phạt của luật pháp thế gian, còn đối với luật nhân quả con có bị tội và giảm đi phần nào không? Kính xin thầy từ bi chỉ giáo cho con.

 

Đáp: Là con người sống trong vòng nghiệp thức vô minh không ai lại không có tội lỗi. Trong Kinh Hoa Nghiêm nói: "Nếu tội lỗi của chúng sinh mà có hình tướng thì cả hư không nầy chứa cũng không hết". Trường hợp của Phật tử tuy có đi chùa lạy Phật, làm việc từ thiện, nhưng vì không kềm chế được lòng dục vọng vô minh sai khiến nên mới tạo ra tội lỗi bị ngồi tù. Phật tử nên biết rằng, việc đi chùa lạy Phật và làm việc từ thiện đó là điều phúc thiện tốt lành, nhưng điều đó chưa hẳn là tu. Bởi tu là phải sửa đổi chuyển hóa vô minh phiền não không gây tạo nghiệp ác. Nhất là phải tu ở nơi ba nghiệp: thân, khẩu ý. Ở đây, Phật tử chỉ làm theo thói quen là đi chùa lạy Phật và làm việc từ thiện mà không có tu hành nên mới gây ra tội ác như thế. Và nay khi nghĩ đến việc lỗi lầm đó, Phật tử cảm thấy rất xấu hổ và muốn cải hối ăn năn những lỗi lầm sai trái đã gây ra nên Phật tử niệm Phật và sám hối. Đó là điều mà Phật tử đã hồi tâm chuyển ý phục thiện rất tốt. Tôi xin tán dương tinh thần cải ác phục thiện của Phật tử, dù đã có chút muộn màng!

 

Phật tử hỏi: Đối với luật nhân quả Phật tử có bị tội và giảm đi phần nào không? Xin thưa, nếu căn cứ theo luật nhân quả, dĩ nhiên, là Phật tử có tội. Và nếu như Phật tử biết thành tâm sám hối, đồng thời phát nguyện chừa bỏ hẳn không tái phạm nữa thì tội kia chắc chắn là sẽ hết. Nếu sám hối mà không hết tội thì chúng ta sám hối để làm gì? Tuy nhiên, Phật tử cần hiểu rõ hai chữ Sám Hối. "Sám" nguyên tiếng Phạn là samma; Trung Hoa dịch là hối quá. Kinh nói: "Sám giả sám kỳ tiền khiên. Hối giả hối kỳ hậu quá". Nghĩa là Sám là ăn năn lỗi trước đã gây, còn Hối là nguyện chừa bỏ lỗi sau. Nói gọn là ăn năn chừa lỗi. Như Phật tử gây tội vi phạm luật pháp đó là nhân. Bị cảnh sát bắt nhốt giam vào trong lao ngục đó là quả. Nhân đã gây thì quả phải lãnh. Không bao giờ có gây nhân mà không có quả. Nay Phật tử biết đó là điều tai hại lỗi lầm quyết ăn năn chừa bỏ không gây tạo nữa. Chẳng những thế, Phật tử còn biết hối lỗi bằng cách niệm Phật sám hối. Như vậy sám hối là nhân, hết tội là quả.

 

Đối với luật pháp thế gian, cũng có sự gia giảm tùy theo tội nhân biết cải hối sửa đổi làm người tốt. Chẳng hạn như tội nhân chấp hành nghiêm chỉnh kỷ luật tốt của trại giam và có những hành vi cử chỉ đối xử thiện hảo với tha nhân. Nói chung, là mọi việc đều cải thiện hoàn lương tốt đẹp, tất nhiên là đương sự sẽ được cấp trên cứu xét mà giảm án. Cải tạo tốt là nhân, giảm án là quả. Nói thế để Phật tử thấy rằng, tất cả đều không ngoài nhân quả. Bởi nhân quả là một chân lý phổ biến nó trùm khắp và chi phối tất cả sự vật. Lớn như quả địa cầu, nhỏ như hạt bụi li ti cũng không thoát ngoài nhân quả. Nếu Phật tử thật tâm sám hối ở nơi ba nghiệp: "Thân, Ngữ, Ý" và quyết không bao giờ tái phạm nữa, tất nhiên, ngang đó là Phật tử sẽ hết tội. Vì tội có ra phát xuất từ nơi ba nghiệp và nay cũng từ nơi ba nghiệp mà Phật tử thành tâm sám hối. Trong ba nghiệp đó phải nói "Ý Nghiệp" là chủ động quan trọng nhứt. Vì lời nói và hành động cũng đều do ý thức ra lệnh sai khiến. Vì vậy, nên nói ý thức là chủ động tạo nghiệp lành dữ. Thiện hay ác, thành hay bại v.v... tất cả đều do nó tạo tác. Công cũng nó mà tội cũng nó. Vì thế nên trong Duy Biểu học gọi nó là: "Công vi thủ tội vi khôi". Nghĩa là luận về công trạng to lớn thì nó đứng đầu. Còn nói về gây ra bao nhiêu tội lỗi nặng nề cũng do nó đứng trước.

 

Cần nói thêm để cho Phật tử hiểu rõ hơn, trong Kinh Phật có nêu ra hai hạng người có sức mạnh lớn. Hạng người thứ nhứt là không tạo tội lỗi. Hạng người thứ hai, khi đã tạo tội lỗi mà biết ăn năn sám hối và quyết lòng chừa bỏ không tái phạm. Phật nói hạng người thứ hai nầy cũng không thua kém gì hạng người thứ nhứt. Nói thế Phật liền nêu ra thí dụ. Thí như cái áo trắng, nếu người nào khéo biết gìn giữ cẩn thận không để cho dính bụi dơ, điều đó là quá tốt. Đó là người khéo biết cẩn mật đề phòng gìn giữ ở nơi ba nghiệp không gây tạo tội lỗi. Đó là hạng người mà Phật nói có năng lực rất lớn trong việc gìn giữ giới cấm. Tuy nhiên, nếu cái áo đã lỡ dính bụi dơ mà chúng ta khéo biết tẩy sạch thì cái áo trắng kia sẽ trở lại như cũ. Phật nói cũng vậy. Một người không tạo tội cũng giống như là khéo gìn giữ cái áo không để dính bụi dơ. Ngược lại, một người khi đã tạo tội mà khéo biết sám hối thì tội kia tất không còn. Như cái áo đã được giặt sạch trở lại. Nếu tội mà còn hoài thì làm sao chúng ta tu hành thành Phật được? Bởi thế trong đạo Phật mới có phương pháp sám hối. Tuy nhiên, khi sám hối tội lỗi đã gây, thì hành giả phải nguyện trọn đời không được tái phạm. Được thế thì tội kia mới không còn.

 

Kính chúc Phật tử nên làm mới lại cuộc đời để được nhiều an lạc.

 

55. Giải thích nhân quả thế nào về họa phúc đắp đổi nhau?

 

Hỏi:  Kính bạch thầy, đời con là một chuỗi dài bất hạnh từ nhỏ cho tới lớn. Vì hoàn cảnh sống khó khăn về tiền bạc, gia cảnh nghèo đói bệnh tật, nợ nần chồng chất, không còn cách nào xoay sở khác, nên con phải làm liều buôn bán nha phiến, không may con bị bắt và nhốt trong lao tù. Ở trong tù con bị bệnh ung thư bao tử, và được chữa trị ở bệnh viện. Sau 4 tháng điều trị tình trạng sức khỏe của con có phần khá hơn, người ta đưa con trở lại vào tù và bác sĩ cho biết con sẽ phải giải phẫu trong một tương lai gần. Nếu bệnh trạng của con xảy ra ở Việt Nam, thì chắc là con không thể nào sống được, vì tiền bạc đâu có mà chạy chữa? Như vậy, con xin hỏi, trường hợp của con họa phúc đắp đổi nhau, thế thì, theo lý nhân quả phải giải thích như thế nào? Kính mong thầy giải thích cho con rõ và cho con lời khuyên.

 

Đáp: Theo luật nhân quả chúng ta gieo hạt nhân nào thì sẽ gặt hái cái kết quả của hạt nhân đó. Không thể gieo hạt giống ớt mà kết quả thành trái cam được. Cho nên nói nhân nào quả nấy là vậy. Tuy nhiên, từ nhân tới quả nó còn đòi hỏi phải có yếu tố thời gian và các thứ trợ duyên khác. Tùy theo những điều kiện tốt, xấu của môi trường mà hạt nhân đó có thể tốt hoặc xấu. Như chúng ta gieo hạt cam đó là chánh nhân, nghĩa là cái nhân chánh để kết thành cây và trái cam. Nhưng nếu chỉ có đơn thuần cái chánh nhân hạt cam không thôi mà không có những trợ duyên khác thì, cái chánh nhân hạt cam kia cũng khó mà sinh thành tăng trưởng. Những điều kiện tốt bao gồm: người chăm sóc đất tốt, phân tốt, ánh sáng, không khí v.v... nói chung là những điều kiện thuận duyên tốt để cho cái chánh nhân phát triển tốt. Thuật ngữ chuyên môn của Duy Thức gọi đó là "Tăng thượng duyên" tốt. Ngược lại, thì sự sinh thành của hạt cam sẽ không được kết quả như ý muốn.

 

Nói thế để Phật tử thấy rằng, việc họa hay phúc, lành hay dữ, tất cả đều không ngoài nhân quả. Nhưng nhân quả có ra cũng do tâm ta tạo lấy. Nếu ta tạo điều lành thì sẽ hưởng quả lành. Ngược lại tạo nhân dữ thì sẽ nhận lấy quả khổ. Lành là phúc, khổ là họa. Họa và phúc thường xuyên xảy ra trong cuộc sống. Là con người khó ai tránh khỏi. Tuy nhiên, phước đến với ta thì ít mà họa đến với ta thì nhiều. Bởi thế, người xưa mới có câu nói: "Phước bất trùng lai họa vô đơn chí". Nghĩa là phước thì không đến hai lần, nhưng họa thì không đi riêng rẽ. Vì sao thế? Bởi trong đời sống, ai cũng muốn mình được giàu sang ăn sung mặc sướng sung túc nên mới tạo ra nghiệp bất thiện. Do đó, nên đời mình phải chịu nhiều hậu quả khổ đau. Như trường hợp của Phật tử, vì hoàn cảnh sống khó khăn, nghèo túng, bệnh tật, nợ nần chồng chất, ở bước đường cùng, túng thế, Phật tử lại liều lĩnh hành nghề buôn bán nha phiến. Vẫn biết việc buôn bán nầy là một họa hại không những cho bản thân, gia đình mà còn liên lụy đến nhân quần xã hội nữa. Hơn thế nữa, việc làm nầy là điều quốc cấm phạm pháp sẽ bị ở tù hoặc bị tử hình. Tùy theo mức độ phạm tội nặng nhẹ mà luật pháp có những hình phạt xứng đáng. Tuy biết như vậy nhưng Phật tử vẫn làm để rồi nay phải chịu ngồi tù thọ án. Đó là cái hậu quả tù tội khổ đau mà do cái nhân buôn bán nha phiến gây ra. Động cơ thủ phạm chính trong vụ nầy chính là do vô minh tham dục thúc đẩy.

 

Từ đó, ta có thể suy rộng ra, sở dĩ hôm nay Phật tử lâm vào hoàn cảnh khó khăn nghèo đói như Phật tử đã nói, thì chính cái quả khổ nầy cũng do Phật tử gây ra những điều tội lỗi bất thiện trong quá khứ. Nay sanh ra đời để phải trả cái quả báo đó. Thay vì an phận trả nghiệp cũ, nay Phật tử lại gây thêm nghiệp mới. Tuy nhiên, như đã nói, trong đời không phải lúc nào mình cũng gây nhân ác hết cả. Cũng có lúc mình cũng gây tạo nhân lành. Như việc thọ án tù tội của Phật tử đó là do gây nhân ác. Mặc dù ở trong tù, nhưng khi bệnh hoạn thì Phật tử lại được chữa trị một cách tận tình của bác sĩ. Đó là trong họa có phúc. Cái phúc nầy biết đâu Phật tử cũng đã từng cứu giúp người ở một hoàn cảnh đau khổ nào đó trong quá khứ hoặc hiện tại. Vì vậy nên nay Phật tử mới có được những cơ may như thế. Thế mới biết, trong họa có phúc mà trong phúc có họa. Phúc là Phật tử được chữa trị ở bệnh viện, nhưng rồi cũng phải trở vào tù thọ án tiếp. Việc họa phúc xảy ra thật khó lường.

 

Cũng đồng thời ở tù nhưng mức độ hành phạt tội nhân tùy mỗi quốc gia có khác nhau. Ở tù trong một nước mà người cầm quyền có lòng nhân đạo, biết yêu thương tôn trọng đồng loại thì, sự hành phạt tương đối có khác hơn ở tù trong một nước thiếu đạo đức tình người. Bởi cách hành phạt đối xử tù nhân của một con người có đạo đức, có lương tâm, dĩ nhiên là khác hơn những con người chứa đầy thú tính. Họ chỉ biết tra khảo đánh đập hành hạ tội nhân có khi mang tật bệnh mà chết. Đó cũng là trong họa có phúc và trong phúc có họa. Bệnh là họa, nhưng được chữa trị tận tâm là phúc.  Ở tù trong một nước có tự do nhân quyền là phúc, ngược lại là họa.

 

Một người đang sống trong sự tự do ấm êm đó là phúc, nhưng lại gây ra tội ác để phải chịu khổ đó là họa. Như vậy, họa hay phúc cũng chính do chúng ta tạo ra mà thôi. Nếu chúng ta cố gắng tu hành làm lành lánh dữ, chuyển hóa thân tâm, thì chúng ta sẽ chuyển họa thành phúc. Ngược lại người không biết tu hành thì phúc hết thành họa. Vì thế, nên Cổ Đức khuyên nhắc chúng ta: "Phước bất hưởng tận". Nghĩa là, người có phước không nên hưởng hết. Bởi họa thì chắc chắn không ai muốn. Không muốn mà gây nghiệp ác thì thử hỏi làm sao tránh khỏi họa? Ngẫm lại, đời sống của chúng ta luôn có nhiều mâu thuẫn. Hạnh phúc thì ai cũng muốn, nhưng gây nhân lành hành thiện nghiệp thì ít ai chịu làm. Còn đau khổ thì ai cũng sợ, nhưng làm ác thì lại không ai chịu tránh. Thế có phải là chúng ta đang sống trong vòng lẫn quẫn mâu thuẫn không? Trong Kinh nói: "Bồ tát thì sợ nhân mà chúng sinh thì sợ quả". Vì Bồ tát biết nhân xấu ác không gây, nên Bồ tát tránh được cái quả khổ. Ngược lại chúng sinh thì không sợ nhân mà lại sợ quả. Lúc gây nhân thì không nghĩ đến hậu quả. Mà dẫu có nghĩ đến đi chăng nữa, nhưng vì bị vô minh dục vọng nó che khuất làm mờ ám tâm trí nên cứ tiếp tục tạo ác. Do lòng ích kỷ tham muốn giàu sang, danh vọng, địa vị... chỉ biết nghĩ lợi cho riêng mình ai chết mặc ai. Đến khi quả báo đến rồi mới than thân trách phận rên rỉ khóc lóc ỉ ôi! Thế là đã muộn màng lắm rồi! Muốn tránh cái họa hại đau khổ hậu quả xảy đến với mình, thì xin mọi người hãy nhớ câu nói: "Phàm làm việc gì trước phải nghĩ đến cái hậu quả của nó". Đây là một câu nói có giá trị ngàn vàng. Mong Phật tử luôn nhớ đến câu nói nầy của người xưa mà làm kim chỉ nam cho đời sống hiện thực vậy.

 

Nếu phải khuyên, thì tôi chỉ xin Phật tử hãy luôn tâm niệm lời dạy sau đây của chư Phật:

 

"Các việc ác chớ nên làm

Nên vâng làm các việc lành

Hằng giữ tâm ý mình cho trong sạch

Đó là lời chư Phật dạy".

 

Kính chúc Phật tử luôn sáng suốt hành thiện và sống một đời sống thật đầy ý nghĩa trong chiều hướng thăng hoa thánh thiện.

 

56. Một người phạm tội bị luật pháp trừng phạt, còn đối với luật nhân quả thì thế nào?

 

Hỏi:  Kính thưa thầy, con phạm tội nhập lậu ma túy vào nước Úc. Con đã bị bắt và bị tuyên án ngồi tù. Con đang thọ bản án của thế gian cũng sắp xong, nhưng con không biết đối với luật nhân quả thì thế nào? Con có phải bị trả quả báo gì không?

 

Đáp: Như trong câu hỏi trên chúng tôi có nói, đối với luật nhân quả không ai thoát khỏi. Dù đó là một ý nghĩ sai lầm cũng có nhân và có quả. Đã thế, nói chi đến lời nói và việc làm. Một lời nói, một việc làm lành hoặc dữ đều có nhân quả báo ứng. Bởi nhân quả là một luật tắc tự nhiên không do ai tạo ra nó. Khác với luật pháp thế gian. Vì luật pháp thế gian là do con người đặt định tạo ra. Thế mà khi chúng ta vi phạm còn không tránh khỏi hình phạt, nói chi đến luật nhân quả. Luật nhân quả tuy vô hình nhưng một mảy may cũng không thoát ra được. Bởi thế mới có câu nói: "Thiên võng khôi khôi sơ nhi bất lậu". Nghĩa là lưới trời lồng lộng nhưng không lọt một ai. Chẳng qua việc trả quả báo nó đến với chúng ta có mau, có chậm khác nhau đó thôi. Nhưng cuối cùng rồi thì ai cũng phải trả quả cả. Tuy nhiên, trả quả nặng hay nhẹ còn tùy thuộc vào cái nhân mình đã gây. Dù nặng hay nhẹ đã có vay thì phải có trả. Kinh nói: "Giả sử bá thiên kiếp sở tác nghiệp bất vong, nhân duyên hội ngộ thời, quả báo hoàn tự thọ". Nghĩa là: Dù cho trải qua trăm ngàn kiếp, những nghiệp nhân lành, dữ mà mình đã gây ra thì không bao giờ mất. Khi nhân duyên đến rồi thì mình phải nhận chịu lấy quả báo mà thôi. Sách Nho cũng nói: "Thiện hữu thiện báo, ác hữu ác báo, nhược hoàn bất báo, thời thần vị đáo, bình sanh hành thiện thiên gia phúc. Nhược thị ngu ngoan thọ họa ương. Thiện ác  đáo đầu chung hữu báo. Cao phi viễn tẩu dã nan tàng. Hành tàng hư thiệt tự gia tri. Họa phước nhơn do cánh vấn thùy. Chỉ tranh lai tảo dữ lai trì..." Nghĩa là: "làm lành thì có quả báo lành; làm dữ thì có quả báo dữ. Hiện thời chưa thấy trả quả báo, vì bởi quả báo chưa đến đó thôi. Trong đời sống bình nhựt, nếu chúng ta làm những điều lành thì trời (tự nhiên) sẽ ban (đem) phúc đến cho ta. Còn như người nào ương ngạnh ngang ngược làm những điều phi pháp, tổn mình hại người, tất nhiên người đó phải nhận lấy tai ương họa hại. Làm lành hay làm dữ cuối cùng rồi cũng phải trả, đừng hòng cao bay xa chạy mà có thể trốn thoát được. Việc làm của mình giả dối hay chân thật thì tự mình mình biết. Việc họa hay phúc mình cũng đừng chạy hỏi ai. Sớm hay muộn gì nó cũng đến với mình mà thôi".

 

Thưa bạn, sở dĩ chúng tôi dẫn chứng dài dòng như thế để bạn thấy rằng, hành động phi pháp của bạn, thì bạn đã phải trả cái quả báo hình phạt theo luật pháp thế gian. Còn đối với luật nhân quả, bạn cũng phải trả. Bởi có gây nhân dù trực tiếp hay gián tiếp đều có quả báo cả. Ngay cả một hành động vô tình cũng có quả báo vô tình. Nói chi đến việc làm của bạn là bạn đã cố ý gian dối qua mặt luật pháp thì tránh sao khỏi quả báo. Cái quả báo đến với bạn là do cái nhân bất chánh. Một hình phạt như thế đó cũng là luật nhân quả mà bạn phải trả. Việc nhập lậu ma túy của bạn đó là do lòng tham lam thúc đẩy nên bạn mới khởi ý nghĩ và hành động sai lầm. Giả như bạn không bị bắt, thì số nha phiến nầy sẽ gây ra tác hại cho biết bao nhiêu người đau khổ. Tuy đó là một việc làm gián tiếp, nhưng cũng không sao tránh khỏi cái quả báo. Đây là một tệ nạn của xã hội mà có biết bao nạn nhân đã phải khổ sở vất vả oằn oại vì vấn đề nầy. Tệ hại hơn nữa là có biết bao gia đình tan nát dở sống dở chết cũng vì cái thảm nạn đau thương lớn lao của việc làm nầy.

 

Nếu bạn là Phật tử thì tôi thành thật khuyên bạn nên nghe theo lời Phật dạy. Đối với những việc làm phi pháp có tác hại cho mình và người, thì Phật dạy chúng ta quyết không nên làm. Đã gây nhân bất thiện thì tránh sao khỏi quả báo khổ đau. Bởi nhân và quả chúng bám sát theo nhau như hình với bóng. Hình như thế nào thì bóng như thế ấy. Cũng thế, gây nhân nào thì phải gặt hái quả đó. Tránh nhân thì không có quả. Có lẽ vì một phút vô minh dấy khởi nên bạn mới lỡ gây ra lỗi lầm như thế. Tuy nhiên, trường hợp của bạn đối với luật nhân quả, cụ thể là bạn đã phải trả một cái giá rất đắt rồi. Đó là bạn phải thọ án ngồi tù. Đây cũng là cơ hội để bạn có thể gạn lọc lại tư tưởng. Đồng thời bạn cũng xét lại và thành tâm ăn năn sám hối những gì mà mình đã gây ra. Nếu như bạn ý thức được việc làm sai trái của mình, khi mãn hạn tù ra ngoài, bạn thệ nguyện với lòng là không bao giờ tiếp tục tái phạm nữa. Theo nhân quả thì ngang đó là bạn sẽ hết tội. Vì bạn không có gây nhân thì làm sao có quả?  Bởi nhân quả không phải là cứng ngắc mà luôn luôn có sự linh động chuyển biến. Nếu chuyển nhân xấu thì làm gì có quả báo xấu? Chẳng những chuyển cái chánh nhân xấu ác không thôi mà bạn còn tích cực hành thiện như cứu giúp cho những người khác có cơ hội để họ cai nghiện v.v... Bạn đã gieo nhân tốt như thế thì chắc chắn là bạn sẽ hưởng được cái quả báo tốt đẹp. Nếu nhân không chuyển được và sám hối không hết tội, thì thử hỏi trên đời nầy có mấy ai tu hành mà thành Phật tác Tổ được? Nhờ có chuyển mê khai ngộ nên người tu hành mới thành tựu được đạo quả. 

 

Nói tóm lại, dù hành động của bạn có sai trái lỗi lầm, nhưng nếu bạn biết hồi tâm chuyển ý ăn năn sám hối nguyện từ nay về sau cho đến trọn đời quyết không bao giờ tái phạm nữa, thì tội lỗi kia tất sẽ không còn. Đó là bạn hành động theo nhân quả. Từ nhân xấu ác bạn chuyển thành nhân tốt lành, và bạn hành động theo nhân tốt, tất nhiên là bạn sẽ hưởng quả báo tốt lành. Đó là bạn đã khéo chuyển nghiệp rồi. Nghiệp mà không chuyển được thì không ai tu hành làm gì cho thêm hao hơi mệt sức.

 

Kính chúc bạn sẽ có được một đời sống an vui hạnh phúc do bạn đã quyết tâm làm mới lại cuộc đời. 

 

57. Sử dụng đồng tiền phi pháp cúng chùa hoặc bố thí có lợi ích phước đức gì không?

 

Hỏi:  Kính bạch thầy, có người họ chuyên làm những việc phi pháp để có tiền, và rồi họ đem đồng tiền phi nghĩa đó, cúng chùa hoặc bố thí làm việc thiện, như vậy xin hỏi người đó có được lợi ích phước đức gì không?

 

Đáp: Xin thưa ngay là không có phước đức chi cả. Bởi đồng tiền mà họ đem cúng dường hay bố thí đó đều không phải chính do họ tạo ra. Đó là đồng tiền phi nghĩa mà họ đã dùng mánh khóe gian xảo thủ đoạn hay quyền lực để chiếm đoạt của kẻ khác. Hoặc họ buôn lậu nha phiến để thủ lợi làm giàu, ai chết mặc ai. Đó là những đồng tiền dơ bẩn mà họ đã gây ra làm cho biết bao kẻ khác phải đau khổ. Không có vị Phật, Bồ tát hay thần linh nào mà chứng minh cho cái tâm địa độc ác và việc làm sai trái phi pháp tội lỗi đó. Không lẽ đi cướp giựt của người nầy đem cho người khác là có phước hay sao? Nếu thế, thì xã hội loài người sẽ loạn lạc đảo lộn hết, không còn an ninh trật tự chi cả. Nếu hành động đó có phước đức, thì ai cũng đi cướp giựt hoặc làm những điều phạm pháp như buôn lậu nha phiến v.v... Gây bao tội ác làm cho mọi người đau khổ thế là có phước đức hay sao?

 

 Ở đời đâu có chuyện bất công là lấy của người nầy rồi đem cho người khác. Người bị mất của cải hay tiền bạc thử hỏi họ có đau khổ buồn rầu không? ( Dù rằng họ là người giàu có sang trọng. Sự giàu có sang trọng của họ một phần cũng do họ có phước; một phần cũng chính do bàn tay và khối óc của họ tạo ra. Họ cũng phải tốn hao biết bao công sức nhỏ từng giọt mồ hôi nước mắt mới có thể tạo dựng nên. Không phải ai giàu có cũng là làm ác hết. Nghĩ thế là không công bằng, nếu không muốn nói là quá hàm hồ quơ đủa cả nắm ). Ngược lại, người được cho thì vui sướng. Thế thì còn đâu là lẽ phải công bằng? Như thế thì cuộc sống của con người sẽ không còn gì là an ổn hạnh phúc nữa cả. Kẻ được cho thì ngồi đó chờ người ta bố thí. Người mất của thì khổ sở rên rỉ khóc than. Như vậy thì đạo đức lương tâm nhân phẩm của con người có còn không?

 

Một việc làm phi nghĩa như thế thì thử hỏi phước đức ở chỗ nào? Nếu chùa nào nhận những đồng tiền phi nghĩa đó, thì có thể nói là vì chùa đó chưa biết mà nhận đó thôi. Nếu đã biết rồi thì chắc chắn không ai nhận cả. Bởi nếu nhận đồng tiền cúng dường phi pháp đó thì có khác nào nhà chùa đã tiếp tay đồng lõa khuyến khích cho kẻ bất nhân gây thêm tội ác bất nghĩa rồi. Không lẽ Tăng, Ni là những người tu hành chơn chánh lại đi xúi giục người đó làm những việc tội ác bất lương  sao? Còn nếu dùng đồng tiền hay của cải phi nghĩa đó mà đem cho người khác, nếu người đó có lương tâm đạo đức thì chắc cũng không ai thèm nhận. Dù cam chịu nghèo đói khổ sở chớ không ai đồng lõa thỏa đồng tình với những con người làm việc bất nhân ác đức đó.

 

Tóm lại, sử dụng đồng tiền phi nghĩa như Phật tử đã nói, theo tôi, thì người cúng đó sẽ không có được phước đức chi cả. Chẳng những không có phước đức mà kẻ đó còn có thêm tội lỗi nữa. Vì đã dùng mọi cách thế để chiếm lấy tiền bạc của cải của người ta. Đó là một hành động quá tàn nhẫn ác độc không thể nào chấp nhận được. Nếu cho rằng việc làm đó có phước, thì cả thiên hạ sẽ rối loạn hết, vì không còn đạo đức nhân nghĩa chi cả. sách Nho có câu: "Nhân phi nghĩa bất giao, vật phi nghĩa bất thủ". Nghĩa là làm người mà không có nhân nghĩa đạo đức thì chúng ta không nên giao du gần gũi với hạng người đó. Còn vật phi nghĩa thì ta không nên giữ gìn hoặc đoạt lấy. Vì cất chứa  những đồ vật phi nghĩa đó tất sẽ rước họa hại vào thân. Ta phải hết sức cẩn thận về vấn đề nầy.

 

58. Thân trung ấm như thế nào và tại sao phải thọ thân trung ấm?

 

Hỏi:  Kính thưa thầy, con nghe nói đến, người ta sau khi chết trong vòng 49 ngày phải đọa làm thân trung ấm. Vậy con muốn biết thân trung ấm như thế nào? Và tại sao phải đọa làm thân trung ấm? Kính mong thầy hoan hỷ giải thích cho con hiểu. Thành kính cám ơn thầy.

 

Đáp: Thân trung ấm còn gọi là trung uẩn hay trung hữu. Theo luận Câu Xá quyển 10, thì thân trung ấm có năm nghĩa: ý sinh thân, cầu sinh, ăn hương liệu, trung hữu, sinh khởi.

 

Theo Hòa thượng Thích Thánh Nghiêm giải thích: "Ý sinh thân là do tâm ý cầu cho có tái sinh thân. Cầu sinh là thường xuyên tìm kiếm nơi có thể tái sinh. Ăn hương liệu là tự duy trì mình nuôi sống mình bằng các món ăn thơm tho mình ưa thích. Trung hữu là vào thời gian hóa độ giữa chết và tái sinh. Sinh khởi là xuất hiện sau khi thân đời sống trước chết đi".

 

Thân trung ấm tùy theo cái phước báo do hiện đời tạo nghiệp lành dữ mà sự hưởng phước báo có khác nhau. Nếu thân trung ấm có phước báo thì nó được ăn loại hương liệu tốt. Ngược lại, nếu thân trung ấm vô phước thì nó phải tự nuôi dưỡng bằng thức ăn hôi thối. Nói chung, thân trung ấm thấy được những sự vật mà con mắt thịt của chúng ta không thấy biết được.

 

Về thân trung ấm tồn tại thời gian bao lâu để rồi phải đi tái sinh thọ báo thân khác (hậu ấm), việc nầy có nhiều thuyết nói khác nhau. Có thuyết nói thân trung ấm tồn tại cho tới khi nào tái sinh, dù lâu bao nhiêu cũng gọi là thân trung ấm. Có thuyết nói thân trung ấm chỉ tồn tại có bảy ngày, chết rồi mang một thân trung ấm khác cho đến khi tái sinh rồi mới thôi.

 

Trong các thuyết nói về thân trung ấm, thì thuyết được nhiều người chấp nhận là thuyết của "Đại tỳ bà sa luận", cho rằng thân trung ấm chỉ tồn tại trong vòng 49 ngày. Vì thế nên mới có tục lệ cúng tuần thất cho đến 49 ngày gọi là cúng tuần chung thất cho người đã mất. Trong thời gian từ khi mới mất cho đến 49 ngày các thân nhân của người mất nên làm các việc từ thiện mà hồi hướng siêu độ vong linh cho người quá cố. Tục lệ nầy nghiễm nhiên đã trở thành một truyền thống tín ngưỡng Phật giáo.

 

Theo Kinh nói, có ba loại chúng sinh không thọ trung ấm thân. Một, loại chúng sinh cực thiện, khi bỏ báo thân liền thác sanh về cảnh giới an lành. Hai, loại chúng sinh cực ác (tạo tội ngũ nghịch), khi bỏ báo thân liền bị đọa vào địa ngục. Ba, loại chúng sinh ở cõi vô sắc giới thường xuyên sống trong Thiền định không có sắc uẩn nên không thọ thân trung ấm. Ngoài ra, tất cả đều phải thọ thân trung ấm trước khi tái sinh thọ báo thân khác.

 

Về hình thể vóc dáng của một thân trung ấm tùy nghiệp mà có những báo thân khác nhau. Theo Kinh Đại Bảo Tích quyển 56 (Hội nhập thai tạng), thì thân trung ấm của chúng sinh từ địa ngục có dung mạo xấu xí như củi khô bị thiêu cháy. Thân trung ấm của chúng sinh chuyển từ giới quỷ đói có dung sắc như nước, thân trung ấm của chúng sinh cõi người và cõi trời có dung sắc màu vàng, thân trung ấm của chúng sinh chuyển từ cõi sắc giới có màu trắng đẹp. Do vậy, hình trạng của thân trung ấm có thể có hai tay, hai chân, bốn chân, nhiều chân, hay không có chân đều do hình tướng của chúng sinh ở đời trước mà hình thành. Luận Câu Xá quyển 9 cho biết, thân trung ấm của người thuộc dục giới có thân hình như cậu bé 5,6 tuổi, thân trung ấm của vị Bồ tát ở cõi dục giới có thân hình như người tráng niên với tướng mạo hình dung đẹp đẽ, khi nhập thai và sinh ra đều có hào quang chiếu sáng. Theo Đại thừa Nghĩa Chương quyển 8, chúng sinh ở hai cõi: Dục giới và sắc giới nói chung đều có thân trung ấm.

 

Theo quyển "Giải thích các mối nghi ngờ về vãng sinh Tịnh độ" quyển 2, cũng có hai cách giải thích: Một là vãng sinh Tịnh độ không có thân trung ấm vì sau khi chết lập tức hóa sinh trong hoa sen rồi. Một thuyết khác nói, chúng sinh từ cõi ô trọc nhơ bẩn, sinh vào một cõi thanh tịnh nên có thân trung ấm. Nhưng thân trung ấm đó vượt mười vạn ức Phật độ, chỉ trong thời gian búng ngón tay và thân trung ấm đó được nuôi dưỡng bằng hương thơm cõi Phật.

 

Qua đó cho chúng ta thấy rằng, chúng sinh ở cõi dục và cõi sắc, trong thời gian thọ thân trung ấm chưa quyết định tái sinh về cõi nào. Tùy theo nghiệp lực của thân trung ấm đó mà định hướng cho sự tái sinh của mình. Tùy nghiệp lực thiện, ác mà môi trường tái sinh của một thân trung ấm có những cảnh giới khác nhau. Vì thế, muốn cho một thân trung ấm tốt cũng như hướng tái sinh tốt, thì trong hiện đời chúng ta nên tu tạo nhiều nghiệp lành để hướng tái sinh của chúng ta khi sinh ra ở một cảnh giới tốt đẹp vậy.

 

59. Sau 49 ngày tụng kinh cầu siêu vậy thân trung ấm có được siêu thoát không?

 

Hỏi:  Kính bạch thầy, thân nhân của con mất, theo lời Phật dạy, phải tụng kinh cầu siêu cho người mất qua bảy cái thất là 49 ngày. Trong thời gian nầy người mất phải thọ thân trung ấm. Vậy sau 49 ngày thân trung ấm của người mất có siêu thoát không? Kính xin thầy giải đáp cho con rõ.

 

Đáp: Như trên đã nói, một người sau khi chết phải thọ thân trung ấm trong thời gian 49 ngày. Theo lời Phật dạy trong thời gian 49 ngày nầy thân nhân của người mất cần phải tu tạo nhiều việc lành để hồi hướng những công đức đó cho hương linh. Trong khi hành thiện lợi mình, lợi người và lợi vật, điều quan trọng là chúng ta phải hết lòng thành tâm trong việc hành thiện đó. Như tụng Kinh, niệm Phật, cúng dường, bố thí v.v... tất cả thân nhân của người mới mất phải gìn giữ trai giới thanh tịnh và chí thành cầu nguyện. Nhờ đó mà hương linh của người mất sẽ được hưởng dụng ít phần công đức. Tuy nhiên, việc siêu thoát hay không, là tùy thuộc vào cái thân trung ấm của người mất. Nếu cái thân trung ấm đó biết hồi tâm chuyển ý cải ác tùng thiện, cải tà quy chánh, và nghe theo lời kinh tiếng kệ thức tỉnh tu hành, cộng thêm việc làm lành tạo phước trong hiện đời, thì thân trung ấm đó chắc chắn là sẽ được siêu thoát. Do đâu mà nói thế? Bởi do căn cứ theo nhân quả mà có thể biết được. Nghĩa là căn cứ ở nơi nhân mà biết được cái quả. Nếu ngược lại những điều trên đã nói, thì thân trung ấm đó thật khó mà siêu thoát. Tất cả thân nhân tu tạo phước lành để hồi hướng cho hương linh đang thọ trung ấm thân đó chỉ là phần trợ duyên một phần nào thôi. Không phải do làm những việc lành đó mà cứu độ cho cái trung ấm thân đó hoàn toàn được siêu thoát như ý mình muốn. Một người trọn đời không tu nhân tích đức, không hành thiện giúp người, chẳng những thế, mà còn gây tạo nhiều nghiệp ác, đến khi chết nhờ người thân siêu độ, thử hỏi làm sao siêu độ cứu thoát được?

 

Theo luật nhân quả, ai gây nấy chịu, ai làm nấy hưởng, ai ăn nấy no, ai học nấy biết chữ, ai tu nấy thành, ai hành nấy đắc. Không thể người nầy thay thế cho người kia được. Một người tạo tội phạm pháp bị giam cầm trong lao ngục, thử hỏi có người thân nào vô đó thay thế được không? Người thân có thương lắm thì cũng chỉ vào thăm và cung cấp chút ít vật dụng thực phẩm, cũng như dùng lời an ủi khuyên lơn vậy thôi. Chớ làm sao thay thế cho sự hành phạt của người đó được. Ý thức được điều đó, tốt hơn hết là mỗi người chúng ta nên tu tạo cho mình có được nhiều lợi lạc ngay trong đời sống hiện tại. Hiện đời có an vui hạnh phúc thì sau khi chết mới có được an vui hạnh phúc. Khổ hay vui cũng chính do mình tạo lấy. Không ai có quyền mang lại cho mình cả. Dù đó là thần linh cũng không thể ban phước giáng họa cho mình.

 

Muốn cho đời sau được tốt đẹp thì hiện đời phải chóng lo tu hành làm lành lánh dữ. Bởi tương lai có ra là do hiện tại quyết định. Hiện tại không tốt đẹp thì thử hỏi tương lai làm sao tốt đẹp được? Cứ theo luật nhân quả mà hành xử ăn ở cho có đạo đức, nhất là đạo đức của một con người. Nếu như chúng ta không muốn sau khi chết thọ trung ấm thân, thì chỉ có cách duy nhất là phải hết lòng niệm Phật cầu sinh Cực lạc. Đó là điều mình phải tự lo cho mình. Ngoài ra, những người thân dù có thương mình đến đâu thì họ cũng chỉ giúp một phần nào trong vấn đề trợ duyên niệm Phật mà thôi. Điều quan trọng nhứt là mình hãy biết thương mình và chính mình phải lo cầu siêu cho bản thân mình chóng được siêu thoát vậy.

60. Cha mẹ mất tụng kinh gì để cầu siêu.

 

Hỏi: Kính bạch thầy, cha vợ con vừa qua đời được hai tuần lễ, con muốn tụng kinh cầu siêu cho cha, nhưng không biết phải tụng những bộ kinh nào? Cúi xin thầy chỉ giáo cho con.

 

Đáp: Khi trong gia đình có người thân mất, thông thường người ta hay phát nguyện tụng Kinh Địa Tạng hoặc Kinh Di Đà hay Kinh Vu Lan Báo Hiếu v.v... Điều nầy, còn tùy theo căn cơ, sở nguyện và ý thích của những thân nhân trong gia đình. Nếu Phật tử thấy có nhân duyên thích hợp với bộ Kinh nào thì cứ đọc tụng bộ Kinh đó. Bởi Kinh nào cũng đều do Phật nói cả. Vấn đề không phải ở nơi sự chọn lựa Kinh nào để tụng, mà điều quan trọng nhứt là sự thành tâm thành ý trong khi tụng niệm.

 

Chúng ta không nên có quan niệm rằng phải tụng đọc Kinh Địa Tạng thì người mất mới được chóng siêu thoát. Bởi Kinh Địa Tạng đặc biệt là chuyên dành để cầu siêu bạt độ vong linh cho những người mới mất. Còn như đọc tụng các Kinh khác như: Di Đà hay Vu Lan Báo Hiếu, thì người mất lâu được siêu thoát. Bởi những Kinh nầy sức gia hộ độ trì của chư Phật, Bồ tát không được mạnh mẽ bằng Kinh Địa Tạng. Đó là những quan niệm hết sức sai lầm mà Phật tử chúng ta nên tránh.

 

Có người còn nói, nếu chỉ tụng đọc kinh không thôi mà không có trì chú thì hương linh của người mất cũng khó được siêu thoát. Bởi đọc kinh không có linh nghiệm bằng trì chú. Có người bảo, muốn cho hương linh chóng được thác sanh về cảnh giới an lành thì phải tụng Kinh Pháp Hoa hoặc Kinh Đại Bát Niết Bàn v.v... Người nói như thế quả thật là họ chưa hiểu gì về ý nghĩa của các kinh điển mà Phật nói cả. Đâu phải kinh điển Phật nói ra là chuyên để tụng đọc cầu nguyện siêu độ cho người chết. Nếu vậy, thì còn gì ý nghĩa sự ra đời độ sinh của đức Phật? Bởi đức Phật ra đời là để độ sinh chớ đâu phải để độ tử. Nói chung, đã là kinh Phật thì bộ kinh nào chúng ta cũng có thể tụng đọc được cả. Vì kinh nào cũng có công năng thù thắng là phá trừ mê mờ, vọng chấp, khai thông nguồn tuệ giác cho tất cả chúng sinh, mà thuật ngữ chuyên môn của Phật giáo gọi là: "Chuyển mê khai ngộ".

 

Nếu tụng đọc kinh điển Phật dạy chỉ để cầu siêu cho người chết không thôi, hiểu thế thì thật là oan uổng cho chư Phật lắm! Và như thế thì còn gì là đạo Phật? Chúng ta không nên có những quan niệm hời hợt và hiểu sai lệch đạo Phật như thế. Hiểu thế, thì chúng ta sẽ đắc tội với Phật pháp vậy.

 

Trở lại vấn đề trên, như tôi đã nêu ra những quyển Kinh như: Kinh Địa Tạng. Kinh Di Đà, Kinh Vu Lan Báo Hiếu, tùy Phật tử chọn lựa bộ kinh nào thích hợp để trì tụng cũng đều được cả. Điều quan trọng là khi tụng niệm, Phật tử và những người thân hay bạn bè, tất cả đều phải chí thành tha thiết để tụng niệm. Có thế, thì hương linh của người quá cố mới được có phần lợi lạc vậy. Còn siêu thoát hay không, phần lớn là còn tùy thuộc vào nghiệp nhân của người mất đã gây tạo.

 

Kính chúc Phật tử có đủ niềm tin và trí sáng trong việc hành trì tu tập để có được lợi lạc hạnh phúc trong nếp sống bình nhựt.

 

Send comment
Your Name
Your email address