Phẩm thứ Nhất: Đạo Hạnh

Thursday, 04 August 20229:45 AM(View: 68)
Phẩm thứ Nhất: Đạo Hạnh

SỐ 226
KINH BÁT-NHÃ BA LA MẬT SAO
Hán dịch: Phù Tần, Thiên Trúc Sa môn Đàm-Ma-Ty và Trúc-Phật-Niệm
Dịch Hán ra Việt: Thích nữ Tâm Thường

(Ni viện Diệu Quang – Nha Trang)

 

Quyển thứ nhất

Phẩm thứ nhất: ĐẠO HẠNH 



N
ghe như vầy:


Một thời Phật ngự trong núi Kỳ Xà Quật, tại La Duyệt Kỳ cùng với chúng Tỳ kheo một ngàn hai trăm năm mươi vị đều là bậc A-la-hán, các lậu đã sạch, đã dứt sanh tử, việc làm và lời nói như nhau, đạt đến tâm giải thoát và tuệ giải thoát. Các bậc Thánh này đã rõ tất cả, các ngài đều là những bậc Thượng sĩ,  việc đáng làm đã làm xong, đã vứt bỏ gánh nặng, đã tự tại không còn các nghiệp. Tâm trí của các ngài đã giải thoát, ngoại trừ hiền giả A-Nan.


Phật bảo Tu-Bồ-Đề:


– Hôm nay thầy có vui lòng thuyết Trí độ cho các Bồ tát không? Các vị ấy sẽ học theo đó mà được thành tựu.


Ngài Xá Lợi Phất suy nghĩ: “Hôm nay thầy Tu-Bồ Đề sẽ vì các Bồ tát thuyết trí độ, đó là do tự lực thầy thuyết hay là nương vào oai thần của Phật để thuyết?”.


Ngài Tu-Bồ-Đề biết được ý nghĩ  của ngài Xá Lợi Phất nên thưa:


– Những lời thuyết về pháp đã đạt được của đệ tử Phật là đều nhờ vào oai thần của Phật. Vì sao? – Vì pháp của Phật thuyết ra và những gì học được trong đó đều có chỗ chứng đắc. Do biết như vậy nên biết có chỗ thành tựu. Đối với các pháp như Phật đã dạy, tuần tự dạy lại cho nhau có thể thành tựu, vì pháp đó không khác với pháp của Như Lai đã thuyết. Nếu vị nào có nhơn duyên muốn học pháp này, trong pháp đó quyết định không sai lầm.


Tu-Bồ-Đề bạch Phật:


– Kính bạch Thế tôn! Thế tôn dạy con thuyết Trí độ cho các Bồ tát, các Bồ tát sẽ nhờ đó mà thành Bồ tát. Như vậy cái tên Bồ tát có ra là từ nơi pháp nào mà có? Con cũng chẳng thấy có pháp Bồ tát và tên của pháp đó, cũng không thấy Bồ tát, cũng không đắc Bồ tát, cũng không thấy Trí độ, cũng không đắc Trí độ. Cũng không thấy Bồ tát, cũng  không đắc Bồ tát, cũng không thấy Trí độ, cũng không đắc Trí độ, thì chỗ nào có Bồ tát để vì họ thuyết Trí độ?


Khi Tu-Bồ-Đề thưa như vậy, Bồ tát nghe việc đó trong tâm không giải đãi, không khiếp sợ, không e ngại, không chướng nạn, không sợ hãi, nên Đại Bồ tát thích ứng với Trí độ. Đại Bồ tát nên học Trí độ như vậy, nên nghĩ trụ vào Trí độ như vậy. Đó tức là học Trí độ.


Tu-Bồ-Đề bạch Phật:


– Đại Bồ tát thực hành Trí độ nên học như vầy: “Học rằng: trong tâm mình đừng nghĩ mình là Bồ tát”. Vì sao? – Vì tâm không tâm thì tâm đó tịnh.


Xá Lợi Phất hỏi Tu-Bồ-Đề:


– Thế nào là tâm có tâm, tâm không tâm?


Tu-Bồ-Đề thưa:


– Tâm cũng không có, cũng không không, cũng không thể đắc, cũng không thể biết nó ở chỗ nào.


Xá-Lợi-Phất hỏi Tu-Bồ-Đề:


– Những tâm như thế nào là cũng không có tâm, cũng không không tâm; cũng không thể đắc; cũng không thể biết ở chỗ nào?


Tu-Bồ-Đề thưa:


– Do đối đãi nên có tâm, nhưng tâm đó là không tâm. Tâm như vậy cũng không ai biết, cũng không ai tạo ra. Do vậy cũng không có có tâm, cũng không không không tâm.


Xá-Lợi-Phất thưa:


– Lành thay! Lành thay! Tu-Bồ-Đề là người được Phật nêu lên, người đáng được nêu lên đó không có vọng kiến về không thân, là người thuyết về không thân huệ đệ nhất. Nhờ đó Đại Bồ tát đạt được danh hiệu Bất thối, quyết định không còn mất Trí độ. Đại Bồ tát cần nên trụ trong đó. Muốn học đạo Thanh văn thì nên nghe Trí độ, học tập, thọ trì, thủ hộ Trí độ. Muốn học đạo Bích Chi Phật nên nghe Trí độ, học tập, thọ trì, thủ hộ Trí độ. Muốn học đạo Bồ tát  nên nghe Trí độ, học tập,thọ trì, thủ hộ Trí độ. Vì sao? – Vì pháp Trí độ rất sâu xa rộng lớn, là chỗ Đại Bồ tát phải học tập.


Tu-Bồ-Đề bạch Phật:


– Con suy nghĩ  kỹ, tâm của Bồ tát không thể đắc, cũng không thể biết ở chỗ nào, cũng không thể thấy để có thể đắc. Cũng không thể nói chỗ nào là chỗ Đại Bồ tát tu Trí độ, cũng thể nói danh tự của Bồ tát. Nó là chỗ không có chỗ, danh tự đó không nằm ở đâu cả.


Tu-Bồ-Đề thưa như vậy xong, Bồ tát nghe việc đó tâm không giải đãi, không khiếp sợ, không chướng nạn để thích ứng với Bất thối nên sợ hãi không còn nữa. An trụ vào chỗ ấy thì liễu tri hết nên không còn trở lại nữa.


Tu-Bồ-Đề bạch Phật:


– Đại Bồ tát thực hành trí độ không nên trụ vào sắùc, không nên trụ vào thọ, tưởng, hành, thức; không nên trụ vào trong đó. Trụ sắc tưởng là thực hành thọ tưởng, hành thức tưởng. Trụ thức là thực hành hành thức. Không nên thực hành hành thức. Giả sử trụ trong đó là không vâng theo lời dạy của Trí độ, không thích ứng  với Nhứt thiết trí. Vì chấp thủ sắc nên không nên chấp thủ sắc. Vì không chấp  thủ sắc là không chấp thủ thọ, tưởng, hành, thức. Người không chấp thủ sắc là phi sắc; không chấp thủ thọ, tưởng, hành, thức là phi thức, không chấp thủ Trí độ. Đó là Đại Bồ tát thực hành Trí độ. Người không chấp thủ danh tự tam muội là chỗ thâm nhập rộng lớn, không chấp thủ Thanh văn, Bích Chi Phật, cho đến Nhứt thiết trí cũng không chấp thủ. Vì sao? – Vì không nên phát sanh tưởng. Ai phát sanh tưởng thì cũng như những kẻ ngoại đạo tầm thường nhưng có đức tin nơi Nhứt thiết trí. Tuy có khác với ngoại đạo nhưng chưa được giải thoát, vì tuy không chấp thủ sắc thì cũng chấp thủ thọ, tưởng, hành, thức. Vì không chấp thủ thì cũng không hiểu, chưa thành tựu cũng không thấy tuệ; cũng không thấy tuệ trong sắc, ngoài sắc; không thấy tuệ khác với sắc; không thấy tuệ trong thọ, tưởng, hành, thức. Cũng không thấy tuệ ngoài thức; cũng không thấy tuệ trong ngoài thức. Cũng không thấy tuệ khác thức, chỉ nhờ đức tin mà được giải thoát. Muốn biết việc của Nhứt thiết trí để tự hạn chế đối với pháp đó là đắc giải thoát, bởi vì người đó đã đắc pháp, ngay nơi pháp cũng vô sở đắc, cũng chưa được giải thoát; người đó không dựa vào Niết-bàn để cống cao. Đó là Đại Bồ tát tu Trí độ. Vì sao? Vì không chấp thủ sắc, không chấp thủ thọ, tưởng, hành, thức; cũng không bát Niết-bàn giữa đường, đạt được mười lực, bốn vô sở úy, mười tám pháp bất cộng, nên gọi là Đại Bồ tát tu Trí độ.


Lại nữa, kính bạch Thiên Trung Thiên! Đại Bồ tát nhập hạnh Trí độ nên thấy thế này: Trí độ này ở chỗ nào? Pháp ở chỗ nào? Hoàn toàn không thể biết, không thể đắc nơi chốn, thì đó là Trí độ, nên nghĩ như vậy. Đại Bồ tát nghe như vậy không giải đãi, khiếp sợ, e ngại, chướng nạn, thì nên biết rằng Bồ tát này đã trụ bất ly Trí độ.


Xá-Lợi-Phất hỏi Tu-Bồ-Đề:


– Đại Bồ tát do nguyên nhân gì bất ly Trí độ? Ly sắc tự thể của sắc; ly thọ, tưởng, hành, thức tự thể của thọ, tưởng, hành, thức ; Trí độ tự thể của Trí độ?


Tu-Bồ-Đề thưa :


– Ly sắc tự thể của sắc; ly  thọ, tưởng, hành, thức tự thể của thức; ly  Trí độ tự thể của Trí độ. Tự thể của  Trí độ là ly tướng, nên tự thể của tướng là ly tướng  tự thể tướng. Tự thể tướng là ly tướng.


Xá-Lợi-Phất hỏi Tu-Bồ-Đề:


– Học như vậy là học Nhứt thiết trí phải không?


Tu-Bồ-Đề thưa:


– Học như vậy là nhập vào Nhứt thiết trí. Vì sao? – Vì các pháp là vô sở nhập. Đại Bồ tát thực hành như vậy  liền đạt đến Nhứt thiết trí. Đây là hạng Đại Bồ tát tu Trí độ gieo giống Nhứt thiết trí.


Lại nữa, Xá-Lợi-Phất! Đại Bồ tát tinh tấn phát biểu : Ta muốn học tập. Ví như hành sắc là hành tưởng, hành sắc tưởng là hành tưởng, hành sắc sanh là hành tưởng, hành sắc hoại là hành tưởng, hành sắc diệt là hành tưởng, hàng sắc không là hành tưởng. Giả như từ ngã hành nên có được là hành tưởng. Diệt thọ,  tưởng, hành, thức là hành tưởng, hành thức hoại là hành tưởng, hành thức diệt là hành tưởng, hành thức không là hành tưởng, từ ngã hành nên có được là hành tưởng. Đại Bồ tát hành trì ngược lại hành tưởng của hành là người thủ hộ hành trì Trí độ vì không hành Trí độ. Ngược lại, nếu hành trì hành tưởng là Đại Bồ tát không hành trì Trí độ.


Xá-Lợi-Phất hỏi Tu-Bồ-Đề:


– Đại Bồ tát nên thực hành Trí độ như thế nào? Không hành sắc hành, không hành sắc tưởng, không hành sắc sanh, không hành sắc hoại, không hành sắc diệt, không hành sắc không, không hành thọ, tưởng, hành, thức; không hành thức sanh, không hành thức hoại, không hành thức diệt, không hành thức không là hành Trí độ. Cũng không thấy cũng không hành. Cũng không thấy hành không hành. Cũng không thấy, cũng không bất hành, cũng không vô hành. Như vậy là không thấy. Vì sao? – Vì tất cả pháp không từ đâu đến, cũng không nương chỗ nào thọ trì. Đại Bồ tát không chấp trước vào các pháp danh hiệu. Tam muội đó không có bến bờ, không có ranh giới nên nhập vào được tất cả, là chỗ các La-hán, Bích Chi Phật không thể biết. Đại Bồ tát theo tam muội này mau đắc Vô thượng chánh đẳng chánh giác, đạt đến quả vị Phật.


Khi Tu-Bồ-Đề nương oai thần của Phật phát biểu điều này, các Đại Bồ tát đều được thọ ký. Quá khứ trước kia, khi Như Lai tự mình đạt đến Vô thượng chánh đẳng chánh giác, cho đến thành Phật đều theo Tam muội này nhưng cũng không thấy Tam muội, cũng không nói ta biết Tam muội, cũng không nghĩ ta hoàn tất Tam muội, cũng không tưởng ta ngồi vào Tam muội, cũng không nói ta hoàn tất Tam muội. Người theo pháp như vậy hoàn toàn không có lỗi.


Xá-Lợi-Phất hỏi Tu-Bồ-Đề:


– Chỗ nào là chỗ Đại Bồ tát thực hành theo Tam muội này? Khi Như Lai ở trước Phật quá khứ được thọ ký thành Phật, Ngài có thấy được chỗ của Tam muội này không?


Tu-Bồ-Đề thưa:


– Không thể thấy được. Thiện nam tử! Ngay nơi Tam muội này  tôi cũng không biết, không hiểu, không rõ. Vì sao? – Vì không biết, không rõ thì cũng không trả lời được. Cũng không có nhị muội, cũng không có danh tự.


Phật dạy:


– Lành thay! Lành thay! Như ta đã dạy Tu-Bồ-Đề, Đại Bồ tát không nhân huệ làm như vậy là học tập theo Trí độ. Đại Bồ tát này là người học Trí độ.


Xá-Lợi-Phất bạch Phật:


– Kính bạch Thiên Trung Thiên! Đại Bồ tát học như vậy là học Trí độ?


Phật dạy Xá-Lợi-Phất:


– Đó là Đại Bồ tát học Trí độ.


Xá-Lợi-Phất bạch Phật:


– Học như vậy là học pháp gì?


Phật dạy:


– Đại Bồ tát học như vậy là học pháp “vô học”. Vì sao? – Vì pháp đó không có chỗ chứng đắc, chớ mê lầm như cái học của trẻ con.


Xá-Lợi-Phất bạch Phật:


– Kính bạch Thế tôn! Vậy ai làngười có thể chứng đắc pháp ấy?


Phật dạy Xá-Lợi-Phất:


– Không ai đắc, đó là đắc.


Phật dạy:


– Không ai đắc pháp, chớ mê lầm như cái học của trẻ con, nghĩa là có chữ nhưng không thể biết được. Muốn thâm nhập vào pháp lại bị chướng ngại cả hai bên. Không hiểu biết pháp và không thấy pháp. Pháp nếu có pháp, do có liền đắc sắc.Thế nên pháp không thể biết, đó là biết. Cũng không biết, cũng không thấy, mê lầm như trẻ con, nghĩa là có thân cũng không hiểu, không tin. Do không hiểu biết nên nói là trẻ con.


Xá-Lợi-Phất bạch Phật:


– Kính bạch Thế tôn! Đại Bồ tát học như vậy  là không học Nhứt thiết trí?


Phật dạy:


– Đại Bồ tát học như vậy là không học Nhứt thiết trí. Đại Bồ tát không học như vậy là học Nhứt  thiết trí để thành Nhứt thiết trí.


Tu-Bồ-Đề bạch Phật:


– Kính bạch Thiên Trung Thiên! Nếu có người bảo rằng: “Thật giả dối thay là học Phật sẽ được làm Phật”. Khi có người hỏi như vậy thì nên trả lời họ như thế nào?


Phật dạy Tu-Bồ-Đề:


– Ta sẽ hỏi, tùy ông trả lời.


Thế nào, Tu-Bồ-Đề! Huyễn cùng với sắc có khác nhau chăng? Huyễn cùng thọ, tưởng, hành, thức có khác nhau chăng?


Tu-Bồ-Đề bạch Phật:

– Không khác, kính bạch Thiên Trung Thiên. Huyễn với sắc không khác. Sắc là huyễn, huyễn là sắc. Huyễn cùng thọ, tưởng, hành, thức không khác.


Phật dạy:


– Thế nào, Tu-Bồ-Đề! Những điều ta hỏi không đúng với pháp. Từ ngũ ấm mà có danh tự Bồ tát phải không?


Tu-Bồ-Đề thưa:


– Đúng như vậy. Kính bạch Thiên Trung Thiên. Đại Bồ tát muốn học  làm Phật là phải học huyễn này. Vì sao? – Vì người tạo ra huyễn  thọ trì sắc ấm như
huyễn. Không có sắc, sáu trần, năm ấm đều như huyễn. Thọ, tưởng, hành, thức đều không. Không có nghiệp, chỉ có danh từ sáu trần, năm ấm mà thôi.


Tu-Bồ-Đề bạch Phật:


– Kính bạch đức Thế tôn! Đại Bồ tát tân học nào nghe những lời này không sợ hãi ?


Phật bảo Tu-Bồ-Đề:


– Giả sử Đại Bồ tát tân học nương theo thầy xấu thì sợ hãi, còn nương theo thầy tốt thì không sợ hãi.


Tu-Bồ-Đề bạch Phật:


– Thế nào là thầy xấu của Đại Bồ tát? Làm sao để biết được?


Phật bảo Tu-Bồ-Đề:


– Là người không tôn trọng Trí độ. Dạy người xả bỏ, xa lìa tâm Bồ tát. Trở lại dạy người phát khởi  ý tưởng học những kinh tạp nhạp, với tà tâm ưa thích học theo kinh tạp nhạp. Dạy các kinh nói về các việc của Thanh văn  hoặc Bích Chi Phật, dạy đọc tụng theo tất  cả những kinh đó để nói về việc của ma, chúa ma, làm cho bại hoại tâm Bồ tát. Thuyết cho người nghe về khổ nhọc của sanh tử, nói rằng quả vị Bồ tát  không thể chứng đắc, thì gọi đó là thầy xấu của Đại Bồ tát.


Tu-Bồ-Đề bạch Phật:


– Vậy thế nào là thầy tốt của Đại Bồ tát? Và sẽ do đâu để biết?


Phật dạy Tu-Bồ-Đề:


– Là người tôn trọng Trí độ, luôn luôn chỉ dạy cho người học tập để thành tựu. Dạy về lời nói và việc làm của ma  để biết rõ ma, để xa lìa ma. Thế nên Đại Bồ tát với đại thệ nguyện hướng đến đại thừa, thì đó là thầy tốt của Đại Bồ tát.


Tu-Bồ-Đề bạch Phật:


– Kính bạch Thiên trung thiên! Bồ tát do nguyên nhân gì gọi là Bồ tát?


Phật dạy:


– Đối với các kinh điển đã học, người này hiểu rõ tất cả, nhưng không đắm trước nơi các pháp, cho nên gọi là Bồ tát.


Tu-Bồ-Đề lại bạch Phật:


– Hiểu  rõ tất cả các kinh pháp nên có tên là Bồ tát. Còn vì sao gọi là Đại Bồ tát?


Phật dạy:


– Đại là tất cả nhơn gian thiên thượng đều rất tôn kính. Do vậy nên gọi là Đại Bồ tát.


Xá-Lợi-Phất bạch Phật:


– Con cũng ưa thích nghe vì lẽ gì gọi là Đại Bồ tát?


Phật dạy:


– Thầy thích nghe, ta sẽ giảng cho thầy. Đại Bồ tát là tự mình thấy rõ tất cả, biết rõ tất cả mọi người trong thế gian. Biết rõ tất cả về tuổi thọ của họ, biết rõ tất cả về việc chặt đứt mọi ràng buộc, dính mắc và có thể tùy theo chỗ ưa thích của họ mà thuyết pháp cho họ nghe. Vì vậy nên gọi là Đại Bồ tát.

Tu-Bồ-Đề bạch Phật:


– Kính bạch Thiên Trung Thiên! Đại Bồ tát để được tên Đại Bồ tát, giả sử tâm Bồ tát không có tâm  nào bằng với tâm ấy, không có người nào có thể đạt được tâm ấy. Là chỗ mà các La-hán và Bích Chi Phật cũng không sánh kịp. Tâm không dính mắc tâm. Vì sao? – Vì đó là tâm của Nhứt thiết trí. Vì ngoài ra không có gì khác. Do tâm không dính mắc nên gọi là Đại Bồ tát.


Xá-Lợi-Phất hỏi Tu-Bồ-Đề:


– Do nguyên nhân gì tâm Bồ tát không dính mắc?


Tu-Bồ-Đề thưa:


– Tâm không suy nghĩ  nên không dính mắc.


Vân Nậu Văn Đà Ni Phất bạch Phật:


– Kính bạch  Thế tôn! Do nguyên nhân gì Đại Bồ tát được gọi là Đại Bồ tát ? Thế nào là Đại Bồ tát  vì đại thệ nguyện? Ma Ha diễn là chánh định của Đại thừa, Tam bạt đế là đẳng trụ?


Phật dạy:


– Bồ tát này tức là Đại Bồ tát.


Tu-Bồ-Đề bạch Phật:


– Đại thệ nguyện, do nguyên nhân gì Bồ tát phát  đại thệ nguyện?


Phật dạy:


– Vì Đại Bồ tát nghĩ : ta sẽ độ vô lượng vô số người, làm cho tất cả đều được Bát Niết-bàn, làm cho Bát Niết-bàn như vậy mà không có pháp Bát Niết-bàn. Vì sao? – Tu-Bồ-Đề! Ví như có một huyễn sư ở một nơi rộng rãi, hóa làm ra nhiều người ở đầy trong một thành, và chặt đầu của tất cả số người được hóa ra ở trong thành đó. Tu-Bồ-Đề! Ý thầy nghĩ thế nào? Trong thành đó có người nào bị giết chết không?


Tu-Bồ-Đề thưa:


– Kính bạch Thế tôn! Trong đó không có người nào bị  giết chết.


Phật dạy:


– Đúng như vậy. Tu-Bồ-Đề! Độ vô  lượng vô số người  làm cho Bát Niết-bàn nhưng không có người nào Bát Niết-bàn. Người nào nghe như vậy không sợ, nên biết đó là Đại Bồ tát, tức là đại thệ nguyện.


Tu-Bồ-Đề bạch Phật:


– Như bản thân con, từ khi theo Phật được nghe và nghĩ về những việc đó, như vậy thì không phải là đại thệ nguyện. Vì sao? – Vì không có người trở thành Nhứt thiết trí, không có người cúng dường, không có người trở thành, thì người nào sẽ làm đại thệ nguyện?

Kính bạch Thiên Trung Thiên! Sắc không dính, không buộc, không mở.

Kính bạch Thiên Trung Thiên! Thọ, tưởng, hành, thức không dính, không buộc, không mở.


Phần Mạn Đà Ni Phất hỏi Tu-Bồ-Đề:


– Sắc không dính, không buộc, không mở. Thọ, tưởng, hành, thức không dính, không buộc, không mở nên có sắc không dính, không buộc, không mở. Có thọ, tướng, hành, thức không dính,không buộc, không mở.


Tu-Bồ-Đề! Sắc ở chỗ nào không dính, không buộc, không mở? Thọ, tưởng, hành, thức ở chỗ nào không dính, không buộc, không mở?


Tu-Bồ-Đề thưa:


– Sắc như huyễn không dính, không buộc, không mở. Thọ, tưởng, hành, thức như huyễn không dính, không buộc, không mở. Không có ranh giới không dính, không buộc, không mở. Không thấy chính xác không dính, không buộc, không mở. Không có chỗ phát sanh không dính, không buộc, không mở. Đó là đại Bồ tát, là đại thệ nguyện.


Tu-Bồ-Đề bạch Phật:


– Do nguyên nhân gì Đại Bồ tát là Đại Bồ tát hướng đến đại thừa? Chỗ nào là đại thừa? Chỗ nào trụ vào đại thừa và đại thừa trụ vào chỗ nào? Sẽ từ nơi chỗ nào lập nên đại thừa?


Phật bảo Tu-Bồ-Đề:


– Đại thừa, đại thừa là không có giới hạn,  không thể đạt được ranh giới thì từ chỗ nào để đạt đến đại thừa? – Đại thừa là từ ba cõi mà ra, từ trong Nhứt thiết trí lập nên. Đối với đại thừa không lập, cũng không không lập. Vì sao? – Lập và không lập, là vì ngay nơi pháp  mà không biết pháp thì pháp nào sẽ lập?


Tu-Bồ-Đề bạch Phật:


– Đại thừa, đại thừa là vượt lên trên thiên thượng, thiên hạ và thế gian. Đại thừa đồng như hư không, giống như hư không, bao trùm vô lượng vo số người nên gọi là đại thừa. Cũng không thấy khi Đại Bồ tát đến, cũng không thấy khi Đại Bồ tát đi, cũng không thấy chỗ của Đại Bồ tát  ở. Đối với đại thừa, kính bạch Thiên Trung Thiên! Không thể đạt được nguồn gốc của đại thừa, cũng không biết chỗ đại thừa sẽ đến, cũng không biết trung gian, chỉ ngay nơi ba cõi thấy tên đại thừa.


Phật dạy:


– Lành thay! Lành thay  Tu-Bồ-Đề! Thế nên Đại Bồ tát là đại thừa.


Phần Mạn Đà Ni Phất bạch Phật:


– Phật dạy thuyết Trí độ, tôn giả Tu-Bồ-Đề lại thuyết đại thừa.


Tu-Bồ-Đề bạch Phật:


– Kính bạch Thiên Trung Thiên! Con thuyết Trí độ không có lỗi.


Phật dạy Tu-Bồ-Đề:


– Trí độ mà thầy thuyết, thích ứng hoàn toàn, trong đó không có một chút lỗi lầm nào.


– Lại nữa, kính bạch Thiên Trung Thiên! Cũng không thấy được nguồn gốc của Bồ tát, cũng không biết được chỗ Bồ tát sẽ đến, cũng không thấy được trung gian của Bồ tát. Sắc không có bến bờ, Bồ tát cũng không có bến bờ. Sắc và Bồ tát không thể đạt được, không thể biết và cũng không thể đắc.


Kính bạch Thiên Trung Thiên! Như vậy Đại Bồ tát cũng không thể biết, cũng không thể đắc, thì sẽ lấy Trí độ nào để thuyết cho Đại Bồ tát? Cũng không đắc
Bồ tát, cũng không thấy Bồ tát thì sẽ dùng pháp nào để thuyết Trí độ? Bồ tát dựa vào tướng danh tự nào để gọi là Bồ tát?


Thế nào, kính bạch Thiên Trung Thiên! Chữ ngã, chỗ nào gọi là ngã?


Kính bạch Thiên Trung Thiên! Ngã đó cũng diệt. Đó là tự thể của pháp. Chỗ nào là sắc? Điều cốt yếu là không diệt. Chỗ nào sắc như vậy thì thọ, tưởng, hành, thức cũng như vậy. Thức không ranh giới, Bồ tát cũng không ranh giới. Hoàn toàn không biết chỗ ở của Bồ tát, cũng không thấy Bồ tát.

Kính bạch Thiên Trung Thiên! Tất cả Đại Bồ tát hoàn toàn không có chỗ ở, cũng không thể đắc, thì chỗ nào là chỗ của Đại Bồ tát để thuyết Trí độ cho họ? Đối với Bồ tát hoàn toàn không thể thấy được, cũng không biết chỗâ ở thì sẽ từ pháp nào để thuyết Trí độ? Đại Bồ tát mà cho rằng có danh tự, đó là danh tự tưởng.


Ngã, kính bạch Thiên Trung Thiên! Ngã đó cũng diệt, là tự thể của pháp. Thức ở chỗ nào cốt yếu không diệt? Thức ở chỗ nào đối với tự thể của pháp không diệt? Không diệt là chẳng phải pháp tạo ra, cũng không không không diệt. Vì sao không diệt? Như Trí độ đã thuyết, không tạo ra cái diệt khác thì sẽ từ nơi pháp nào đưa đến? Bồ tát thực hành hạnh này, nghe việc đó không khủng khiếp, không lo sợ, là người hành Trí độ.


Trí độ, kính bạch Thiên Trung Thiên! Lúc suy nghĩ  chín chắn như vậy thì không nhập vào sắc, lấy gì đắc sắc? Không có chỗ sanh ra là phi sắc. Giả sử phi sắc là không sắc cũng không sanh ra thì trong đó không có chỗ nào để được danh tự? Sắc này là pháp làm ra số. Bấy giờ Đại Bồ tát vì thực hành Trí độ sẽ thấy pháp thâm nhập vào tư duy. Bấy giờ cũng không nhập vào thọ, tưởng, hành, thức. Vì sao? – Vì thức không có chỗ sanh ra là phi thức. Giả sử phi thức là không có thức, cũng không có chỗ sanh ra, từ đó không có chỗ để được danh tự, thức này là pháp làm ra số.


Xá-Lợi-Phất hỏi Tu-Bồ-Đề:


– Pháp thầy thuyết không có chỗ sanh. Giả sử Bồ tát cũng không có chỗ sanh, thì Bồ tát dựa vào những gì mà siêng năng thực hành đạo Bồ tát? Giả sử nhờ vào tất cả mọi người, thì ai là người nhận chịu sự khổ nhọc này?


Tu-Bồ-Đề thưa:


– Tôi cũng không bảo Bồ tát nhận chịu hạnh khổ nhọc này. Bồ tát nhẫn nhục thực hành khổ hạnh là con đường của Bồ tát. Không nên nghĩ: ta nhẫn nhục chịu đựng hạnh khổ nhọc. Vì sao? – Vì tâm Bồ tát không nghĩ như vậy mới có thể làm cội gốc cho vô lượng vô số người, làm cho đều được an ổn. Nghĩ  đến họ như nghĩ đến mẹ, nghĩ đến họ như nghĩ đến cha, đến con, đến bản thân mình. Đại Bồ tát nên giữ tâm mình luôn nghĩ như vậy đối với tất cả, chẳng thấy Bồ tát, cũng chẳng biết ở chỗ nào. Đối với pháp trong – ngoài nên nghĩ như vậy, nên thực hành như vậy. Người làm như vậy là nhẫn nhục thực hành khổ hạnh.


Xá-Lợi-Phất! Giả sử không thấy sanh ra Bồ tát, vì Bồ tát là vô sanh.


Xá-Lợi-Phất hỏi Tu-Bồ-Đề:


– Giả sử Bồ tát không sanh thì Nhứt thiết trí cũng không sanh?


Tu-Bồ-Đề bảo Xá-Lợi-Phất:


– Nhứt thiết trí cũng không sanh.


Xá-Lợi-Phất bảo Tu-Bồ-Đề:


– Nhứt thiết trí không sanh thì phàm phu cũng không sanh.


Tu-Bồ-Đề thưa:


– Phàm phu cũng không sanh.


Xá-Lợi-Phất hỏi Tu-Bồ-Đề:


– Bồ tát không sanh thì pháp Bồ tát cũng không sanh. Nhứt thiết trí không sanh thì pháp Nhứt thiết trí cũng không sanh. Phàm phu không sanh thì pháp phàm phu cũng không sanh. Vậy Bồ tát không từ đâu sanh ra để đạt đến Nhứt thiết trí.


Tu-Bồ-Đề thưa:


– Pháp không từ đâu sanh ra để nhập vào. Cũng chẳng phải không không có pháp từ chỗ nào sanh ra để đạt được.


Xá-Lợi-Phất lại hỏi:


– Cái sanh sanh ra đó mới có thể đạt được pháp phải không?


Tu-Bồ-Đề thưa:


– Pháp không từ đâu sanh ra để được sanh. Pháp không có chỗ sanh đó là đạt được.


Xá-Lợi-Phất lại hỏi:


– Do sanh sanh ra là từ chỗ không sanh sanh ra.


Tu-Bồ-Đề thưa:


– Không chỗ sanh, thích nghe về không chỗ sanh.


Xá-Lợi-Phất hỏi Tu-Bồ-Đề:


– Không ưa nghe sanh, chính đó là ưa nghe.


Tu-Bồ-Đề thưa:


– Không sanh ra nghe chính đó là nghe.


Xá-Lợi-Phất bảo:


– Do nghe, đó là nhờ lời nói.


Tu-Bồ-Đề thưa với Xá-Lợi-Phất:


– Không không lời nói, đó là lời nói. Không nói, không thích  nghe, đó là nói, đó là thích nghe.


Xá-Lợi-Phất bảo:


– Lành thay! Lành thay! Tu-Bồ-Đề đã thuyết những điều tôn quý trong giáo pháp. Vì sao? – Vì tôn giả Tu-Bồ-Đề y theo câu hỏi, ngài giải đáp tất cả.


Tu-Bồ-Đề thưa:


– Đệ tử Phật thuyết pháp đều như vậy. Tùy theo chỗ người ta hỏi mà giải đáp. Vì sao? – Vì theo pháp là như vậy, nên cũng không biết chỗ sanh ra.


Xá-Lợi-Phất bảo:


– Lành thay! Lành thay! Tu-Bồ-Đề, từ Trí độ nào Đại Bồ tát vượt qua?


Tu-Bồ-Đề thưa:


– Từ Trí độ lúc thuyết pháp này, ai đọc tụng Đại Bồ tát sẽ biết được đức tin của người đó không còn nghi ngờ. Có người tin theo, pháp này không tăng. Không có người tin theo, pháp này cũng không giảm.


Xá-Lợi-Phất hỏi Tu-Bồ-Đề:


– Có người theo,  pháp này cũng không tăng. Không có người theo, pháp này cũng không giảm. Dạy tất cả mọi người theo pháp này vì theo pháp này không mất tất cả người, vì làm cho tất cả được đắc Đại Bồ tát. Vì sao? – Vì tất cả mọi người đều học pháp. Tục lệ của pháp này là như vậy.


Tu-Bồ-Đề thưa:


– Lành thay! Lành thay! Xá-Lợi-Phất đã hiểu pháp một cách đúng đắn!


Xá-Lợi-Phất bảo:


– Không có gì lạ. Vì sao? – Người tự nhiên sẽ nghĩ biết không chính xác về người, sẽ nghĩ biết không chính xác, thân người khó biết rõ sẽ nghĩ biết rõ.

Xá-Lợi-Phất! Pháp của Đại Bồ tát nên thủ hộ như vậy, nên tu hành như vậy.

Send comment
Your Name
Your email address
CONTACT US
CONTACT US